|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/DS-ST
Ngày 04-4-2025
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Chấn
2. Bà Trần Thị Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 tháng 3 năm 2025 và ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 111/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-DS ngày 17/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐST-DS ngày 06/3/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 14/2025/QĐST-DS ngày 25/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Ngọc H, sinh năm 1963; địa chỉ: Số nhà D, phố L, tổ dân phố V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Vũ Văn B, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; địa chỉ: Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành L, chức vụ: Chi cục trưởng (vắng mặt).
- + Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; địa chỉ: Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Xuân H1, chức vụ: Chủ tịch (vắng mặt).
- + Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang; địa chỉ: Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn N, chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Quang D, chức vụ: Cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn là bà Dương Ngọc H trình bày:
Ngày 31/12/2021 bà trúng đấu giá quyền sử dụng đất có diện tích 49,5m² và tài sản gắn liền với đất gồm 01 ngôi nhà 03 tầng loại 2 có diện tích là 56,7m², mái tôn trước nhà có diện tích 61,9m² của bà Nguyễn Thị C do Công ty Đ tổ chức đấu giá.
Đến ngày 20/4/2022, bà được các cơ quan chức năng của huyện L tiến hành bàn giao đầy đủ tài sản đã trúng đấu giá. Theo đề nghị của phòng Tài nguyên và môi trường huyện L thì ngày 13/11/2022 UBND huyện L đã ra quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà được quyền sử dụng đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 42 có diện tích 47,9m²; địa chỉ thửa đất ở tại Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; mục đích sử dụng là đất ở đô thị.
Đầu tháng 5 năm 2022 bà lên thăm nhà thì thấy bà C đã tự ý phá khóa và dọn vào nhà bà ở, xâm nhập nhà ở bất hợp pháp, tự ý dùng tôn bít kín từ trên mái hiên trước của nhà bà quây xuống mặt đất trái quy định của pháp luật. Bà đã trực tiếp nhắc nhở bà C dọn ra khỏi nhà bà nhưng bà C không chấp hành mà còn chửi bới, xúc phạm bà. Từ tháng 5 năm 2022 đến nay bà C vẫn tiếp tục ở, sinh hoạt chiếm giữ trái phép nơi ở của bà mặc dù bà không đồng ý và không có bất cứ giao kết hợp đồng cho thuê, hay cho mượn nhà.
Bà đã gửi đơn đến Công an thị trấn Đ, Công an huyện L, UBND thị trấn Đ và UBND huyện L nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết.
Nay, bà khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam giải quyết buộc và Nguyễn Thị C phải dọn ra khỏi nhà để trả cho bà quyền sử dụng đất đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 147560 ngày 09/11/2022 đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 42 có diện tích 47,9m² mang tên Dương Ngọc H; địa chỉ thửa đất tại Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Ngoài ra, bà Dương Ngọc H không còn yêu cầu nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn là bà Nguyễn Thị C trình bày:
Giữa bà và bà H không có mối quan hệ gì. Sau khi bà H đấu giá thành công đối với thửa đất bà đang ở và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam có thông báo cho bà nên bà mới biết bà H.
Đối với nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp như sau: Khoảng năm 2013-2014 bà có mua của anh trai bà là ông Nguyễn Văn C1 với giá là 400.000.000 đồng, bà mua với mục đích để ở. Khi mua thì thửa đất này có diện tích là 49,5m², sau khi mua giữa bà và anh trai bà có làm thủ tục sang tên cho bà và bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bà đã trực tiếp ở và sử dụng thửa đất này từ khi mua của ông C1 cho đến nay. Năm 2018, bà có vay của ông Vũ Văn B, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang số tiền là 1.500.000.000 đồng. Năm 2019, do bà không có tiền trả cho ông B nên bà đã chuyển nhượng lại thửa đất này cho ông B. Khi chuyển nhượng thửa đất này giữa bà và ông B chỉ viết tay giấy chuyển nhượng với nhau chứ không đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển nhượng cho nhau. Từ năm 2019 đến nay bà đã thuê lại thửa đất trên của ông B để ở do bà không có chỗ ở nào khác. Giữa bà và ông B đã viết Giấy cho thuê nhà đất để ở ngày 17/11/2019, thời hạn thuê là 7 năm (từ ngày 17/11/2019 đến ngày 17/11/2026) với giá thuê là 200.000 đồng/tháng.
Năm 2019, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam và Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã xử buộc bà phải trả cho ông Nguyễn Ngọc B1 số tiền 750.000.000 đồng. Do bà không trả tiền cho ông B1 nên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam đã tổ chức cưỡng chế bản án và tổ chức bán đấu giá đối với thửa đất này. Sau khi Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam tổ chức bán đấu giá thì bà Dương Ngọc H đã trúng đấu giá. Sau khi bà H trúng đấu giá thì bà H đã nhiều lần yêu cầu bà phải trả lại cho bà H thửa đất này. Thửa đất tranh chấp chỉ đứng tên mình bà vì chồng bà đã chết từ lâu, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà vẫn còn, do ông B đang quản lý.
Nay, bà H khởi kiện bà phải trả lại thửa đất này thì bà không đồng ý. Bởi vì thửa đất này bà đã bán cho ông B và thuộc toàn quyền sử dụng của ông B chứ bà không có quyền định đoạt, bà chỉ thuê lại của ông B, bà không liên quan đến việc này.
Ngoài ra, bà Nguyễn Thị C không có ý kiến nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Văn B và bà Nguyễn Thị T trình bày:
Thời gian trước đây, ông bà có mua của bà Nguyễn Thị C một thửa đất, cụ thể diện tích bao nhiêu ông bà không nhớ. Thửa đất này là thửa đất mà bà H hiện đang tranh chấp với bà C. Thời điểm đó ông bà mua với giá 1.500.000.000 đồng. Khi mua hai bên có lập biên bản viết tay và có cùng ký nhận với nhau nhưng không đến Ủy ban nhân dân xã xác nhận. Hiện nay ông bà đang giữ bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Từ khi mua đất nhà bà C ông bà chưa làm thủ tục chuyển nhượng do thửa đất có tranh chấp. Khi ông bà giao đủ tiền cho bà C thì ông bà có cho bà C ở nhờ do là chị em trong nhà với nhau. Hiện nay, đối với yêu cầu khởi kiện của bà H thì ông bà không đồng ý vì thửa đất này đã thuộc quyền sử dụng của ông bà.
Ngoài ra, ông Vũ Văn B và bà Nguyễn Thị T không còn ý kiến nào khác.
* Tại bản trình bày quan điểm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam do ông Nguyễn Thành L đại diện theo pháp luật trình bày:
Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam đã kê biên và tổ chức bán đấu giá tài sản theo Bản án dân sự số 35/2019/DS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam và Bản án dân sự phúc thẩm số 79/2020/DS-PT ngày 07/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Ngày 31/12/2021, bà Dương Ngọc H trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00 có diện tích 49,5m² đất ở nông thôn (nay là đất ở đô thị) tại tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L và tài sản gắn liền trên đất gồm 01 nhà 02 tầng có diện tích là 56,7m², mái tôn có diện tích 61,9m². Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam đã bàn giao tài sản trúng đấu giá cho bà H.
Nay, bà Dương Ngọc H khởi kiện bà Nguyễn Thị C, ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, ông Nguyễn Thành L không còn ý kiến nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L do ông Đào Xuân H1 đại diện theo pháp luật trình bày:
Năm 2021, bà Dương Ngọc H là người đã trúng đấu giá thửa đất có diện tích 49,7m² ở tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Thửa đất này trước đó là của bà Nguyễn Thị C, bà C có tài sản bị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam cưỡng chế.
Sau khi Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam cưỡng chế tài sản của bà C thì đã bàn giao tài sản là đất và tài sản gắn liền với đất cho bà H. Một thời gian sau, UBND thị trấn Đ có nhận được đơn phản ánh của bà H về việc bà C tự ý phá khóa cửa nhà và sinh sống tại ngôi nhà của bà H. Ông đã giao đơn của bà H cho Công an thị trấn Đ giải quyết theo quy định.
Nay, bà H khởi kiện bà C ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Toàn bộ tài sản tranh chấp là của bà H đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng trình tự thủ tục của pháp luật.
Ngoài ra, ông Đào Xuân H1 không còn ý kiến nào khác.
* Tại bản trình bày quan điểm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện L do ông Đào Quang D đại diện theo ủy quyền trình bày:
Căn cứ Quyết định số 156/QĐ-CCTHADS ngày 05/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam. Ngày 09/11/2022, Ủy ban nhân dân huyện L đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số quản lý DH147560 đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 42 có diện tích 47,9m² và tài sản trên đất gồm có 01 ngôi nhà cấp 3 loại 2 có diện tích 56,7m², mái tôn trước nhà có diện tích 61,9m² tại QL31, tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang cho bà Dương Ngọc H do trúng đấu giá tài sản thi hành án. Việc Ủy ban nhân dân huyện L đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Dương Ngọc H là đúng quy định, trình tự, thủ tục của pháp luật. Từ khi Ủy ban
nhân dân huyện L đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Dương Ngọc H đến nay thì Ủy ban nhân dân huyện L không nhận được ý kiến gì của công dân.
Ngoài ra, ông Đào Quang D không còn ý kiến nào khác.
* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn đề nghị xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 42 có diện tích 47,9m² đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 147560, có số vào sổ cấp GCN: CH 06150/ QĐ SỐ: 1526/QĐ-UBND ngày 09 tháng 11 năm 2022 mang tên bà Dương Ngọc H; địa chỉ thửa đất ở Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang và toàn bộ tài sản gắn liền với đất.
- Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/12/2024 như sau:
Thửa đất số 277, tờ bản đồ số 42 có diện tích 47,9m² đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 147560, có số vào sổ cấp GCN: CH 06150/ QĐ Số: 1526/QĐ-UBND ngày 09 tháng 11 năm 2022 mang tên bà Dương Ngọc H; địa chỉ thửa đất ở tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang có các vị trí tiếp giáp như sau: Phía Nam giáp Quốc lộ C; phía Tây giáp thửa đất nhà anh D1, chị H2; phía Đông giáp thửa đất nhà bà C; phía Bắc giáp mương nước.
Trên đất có các tài sản như sau: 01 ngôi nhà cấp 3 loại 2 xây dựng năm 2008 có diện tích 56,7m² và 01 mái tôn trước nhà có diện tích 61,9m².
Ngoài các tài sản trên thì các đương sự không đề nghị xem xét, thẩm định thêm tài sản gì khác.
- Kết quả định giá tài sản ngày 13/12/2024 như sau:
- + Đối với đất: Căn cứ Quyết định số 40 ngày 27/11/2024 của UBND tỉnh B về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 72 ngày 21/12/2021 về việc ban hành bảng giá đất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thì thửa đất này thuộc vị trí 1, khu vực 1 đoạn từ cầu S đến đất T, giá trị thửa đất có giá là 15.000.000 đồng/m².
- Sau khi tham khảo giá chuyển nhượng thị trường tại vị trí tương đồng ở thời điểm hiện tại thì giá đất ở có giá trị là 19.000.000 đồng/m² x 47,9m² = 910.100.000 đồng.
- + Đối với nhà ở: Trên đất có 01 căn nhà cấp 3 loại 2 xây dựng năm 2008 có diện tích 56,7m², sau khi khấu hao thì giá trị căn nhà là 143.167.500 đồng.
- + Đối với mái tôn trước nhà có diện tích 61,9m²: Bà Dương Ngọc H không đề nghị định giá tài sản nên Hội đồng không tiến hành định giá.
Ngoài các tài sản trên, các bên đương sự không đề nghị định giá tài sản gì khác.
- Ngày 09 tháng 01 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Tại phiên tòa ngày 06 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam đã mở phiên tòa nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt
tại phiên toà lần thứ nhất không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hoãn phiên tòa, Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa.
- Tại phiên tòa ngày 25/3/2025, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam đã mở phiên tòa nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử theo thủ tục chung. Tại phần tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tạm ngừng phiên tòa để bổ sung người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa.
* Tại phiên tòa ngày 04 tháng 4 năm 2025 bà Dương Ngọc H trình bày như sau: Bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX giải quyết quyết buộc và Nguyễn Thị C phải dọn ra khỏi nhà để trả cho bà quyền sử dụng đất đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 147560 ngày 09/11/2022 đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 42 có diện tích 47,9m² mang tên Dương Ngọc H; địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang cùng tài sản gắn liền với đất gồm có 01 ngôi nhà cấp 3 loại 2 có diện tích 56,7m² và 01 mái tôn trước nhà có diện tích 61,9m².
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bà Dương Ngọc H có mặt; bà Nguyễn Thị C, ông Vũ Văn B, bà Nguyễn Thị T vắng mặt lần thứ ba không có lý do; Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, Ủy ban nhân dân thị trấn Đ và Ủy ban nhân dân huyện L có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- + Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 203 Luật đất đai năm 2013, Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 158, Điều 161, khoản 1 Điều 163 Bộ luật dân sự và Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để:
- + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Ngọc H đối với bà Nguyễn Thị C, buộc bà Nguyễn Thị C phải di dời và trả cho bà Dương Ngọc H thửa đất số 277, tờ bản đồ số 42 có diện tích 47,9m² đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 147560, có số vào sổ cấp GCN: CH 06150/ QĐ Số: 1526/QĐ-UBND ngày 09 tháng 11 năm 2022 mang tên bà Dương Ngọc H; địa chỉ thửa đất ở tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang và toàn bộ tài sản gắn liền với đất gồm 01 ngôi nhà cấp 3 loại 2 có diện tích 56,7m² và 01 mái tôn trước nhà có diện tích 61,9m².
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau nghe khi ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện Lục Nam và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về thủ tục tố tụng: Bà Dương Ngọc H có mặt; bà Nguyễn Thị C, ông Vũ Văn B, bà Nguyễn Thị T vắng mặt lần thứ ba không có lý do; Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, Ủy ban nhân dân thị trấn Đ và Ủy ban nhân dân huyện L có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị C có địa chỉ cư trú tại thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ vào Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, bà Dương Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị C phải trả cho bà H thửa đất số 277, tờ bản đồ số 42 có diện tích 47,9m² đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 147560, có số vào sổ cấp GCN: CH 06150/ QĐ SỐ: 1526/QĐ-UBND ngày 09 tháng 11 năm 2022 mang tên bà Dương Ngọc H; địa chỉ thửa đất ở Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang và toàn bộ tài sản gắn liền với đất.
Căn cứ khoản 9 Điều 26 BLTTDS xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Về nguồn gốc đất:
Ngày 11/01/2010, ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị P được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 176541 đối với diện tích 49,5m²; địa chỉ thửa đất ở tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ngày 24/3/2015, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đã xác nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị C.
- Xét yêu cầu khởi kiện của bà Dương Ngọc H về việc buộc bà Nguyễn Thị C phải trả cho bà H thửa đất số 277, tờ bản đồ số 42 có diện tích 47,9m² đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 147560, có số vào sổ cấp GCN: CH 06150/ QĐ Số: 1526/QĐ-UBND ngày 09 tháng 11 năm 2022 mang tên bà Dương Ngọc H; địa chỉ thửa đất ở Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thì thấy:
Ngày 31/12/2021, Công ty Đ tổ chức đấu giá tài sản đối với thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00 có diện tích 49,5m² đất cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất của bà Nguyễn Thị C. Tài sản này là do Chi cục thi hành án huyện Lục Nam tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản của bà C để đảm bảo thi hành án theo Bản án dân sự số 35/2019/DS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam và Bản án dân sự phúc thẩm số 79/2020/DS-PT ngày 07/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Ngày 31/12/2021, bà Dương Ngọc H trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00 có diện tích 49,5m² đất ở nông thôn (nay là đất ở đô
thị) tại tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L và tài sản gắn liền trên đất gồm 01 nhà 02 tầng có tổng diện tích là 170,1m², mái tôn có diện tích 61,9m².
Ngày 20/4/2022, Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam tổ chức cưỡng chế và bàn giao tài sản trúng đấu giá cho bà H, bà H đã nhận toàn bộ tài sản là thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00 có diện tích 49,5m² và tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà 02 tầng. Sau khi nhận tài sản, bà H đã khóa cửa căn nhà 02 tầng và về nơi cư trú là thành phố B.
Ngày 09/11/2022, Ủy ban nhân dân huyện L đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 147560 đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 42 có diện tích là 47,9m² và tài sản gắn liền với đất gồm 01 ngôi nhà cấp 3 loại 2 có diện tích 56,7m², mái tôn trước nhà có diện tích 61,9m² tại tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L cho bà Dương Ngọc H theo Quyết định số 156/QĐ-CCTHADS ngày 05/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
Đến tháng 5/2022, bà H lên dọn dẹp ngôi nhà trúng đấu giá để sử dụng thì phát hiện bà C đã tự ý dọn vào ngôi nhà của bà H để sinh sống. Bà H đã nhiều lần yêu cầu bà C trả lại nhưng bà C không trả.
Ngày 15/3/2024, bà H làm đơn gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L để tố giác bà C có hành vi xâm phạm, chiếm giữ trái phép chỗ ở của bà H tại tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L. Ngày 16/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ban hành Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 1237/QĐ-ĐTTH đối với đơn tố giác về tội phạm của bà Dương Ngọc H.
Như vậy, bà H đã được Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam bàn giao tài sản trúng đấu giá theo đúng quy định pháp luật và đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 147560 ngày 09/11/2022 đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 42 có diện tích là 47,9m² và tài sản gắn liền với đất gồm 01 ngôi nhà cấp 3 loại 2 có diện tích 56,7m², mái tôn trước nhà có diện tích 61,9m² tại tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L đúng trình tự, đúng quy định của pháp luật.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Ngọc H đối với bà Nguyễn Thị C. Buộc bà Nguyễn Thị C phải di dời và trả lại cho bà Dương Ngọc H thửa đất số 277, tờ bản đồ số 42 có diện tích là 47,9m² và tài sản gắn liền với đất gồm 01 ngôi nhà cấp 3 loại 2 có diện tích 56,7m², mái tôn trước nhà có diện tích 61,9m² đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 147560 ngày 09/11/2022 mang tên bà Dương Ngọc H; thửa đất có địa chỉ tại tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L là phù hợp với Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; Điều 158, Điều 161, khoản 1 Điều 163 Bộ luật dân sự
- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị C phải chịu số tiền chi phí tố tụng là 7.000.000 đồng. Do bà Dương Ngọc H đã nộp toàn bộ chi phí tố tụng nên bà H được nhận toàn bộ chi phí tố tụng do bà C nộp.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì thấy:
Bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Các Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; Điều 158, Điều 161, khoản 1 Điều 163 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Ngọc H đối với bà Nguyễn Thị C, buộc bà Nguyễn Thị C phải di dời và trả lại cho bà Dương Ngọc H thửa đất số 277, tờ bản đồ số 42 có diện tích là 47,9m² và tài sản gắn liền với đất gồm 01 ngôi nhà cấp 3 loại 2 có diện tích 56,7m², mái tôn trước nhà có diện tích 61,9m² đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 147560 ngày 09/11/2022 mang bà tên Dương Ngọc H; thửa đất có địa chỉ tại tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị C phải chịu số tiền chi phí tố tụng là 7.000.000 đồng. Bà Dương Ngọc H được nhận lại số tiền chi phí tố tụng là 7.000.000 đồng.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Ngọc O |
Bản án số 22/2025/DS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 22/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Dương Ngọc H khởi kiện bà Nguyễn Thị C
