Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 22/2024/DS-ST

Ngày: 18-9-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Thanh Diện
  2. Ông Trần Thị Ngọc Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Trần Quốc Trọng – Kiểm sát viên

Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST-TCDS ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”,

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-TCDS ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ;

Địa chỉ: T, số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L – Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Thanh H – Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh B;

Người được ủy quyền lại: bà Nguyễn Thị T – Phó trưởng Phòng Quản lý rủi ro Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh B. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/6/2024, bản tự khai, quá trình hòa giải, người đại diện nguyên đơn trình bày: bà Trần Thị M có quan hệ tín dụng với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (viết tắt là Ngân hàng Đ), cụ thể như sau:

  • - Ngày 24/06/2022, bà Trần Thị M đã ký với Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B-Phòng G, Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/17683184 vay số tiền 900.000.000 đồng; thời hạn vay: 60 tháng; mục đích: Phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân và gia đình. Ngày 24/06/2022, Bà Trần Thị M đã rút vốn vay số tiền 900.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 18/9/2024, bà Trần Thị M đã trả nợ tổng số tiền 239.090.479 đồng (trong đó: gốc 125.000.000 đồng; lãi 114.075.411 đồng; phí trả chậm 15.068 đồng). Sau đó, do không thực hiện đúng thoả thuận theo Hợp đồng, khoản vay của bà đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 15/01/2024. Dư nợ của khoản vay trên tạm tính đến ngày 18/9/2024 là: 829.510.171 đồng (trong đó: gốc 775.000.000 đồng; lãi 53.090.685 đồng; phí trả chậm 1.419.486 đồng).
  • - Ngày 24/06/2022, bà Trần Thị M đã ký với Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B -Phòng G Hợp đồng cấp tín dụng số 02/2022/17683184 vay số tiền 800.000.000 đồng; thời hạn vay: 60 tháng; mục đích: Sửa chữa nhà ở. Ngày 24/06/2022, Bà Trần Thị M đã rút vốn vay số tiền 800.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 18/9/2024, bà Trần Thị M đã trả nợ tổng số tiền 249.068.490 đồng (trong đó: gốc 148.741.298 đồng; lãi 100.327.192 đồng). Sau đó, do không thực hiện đúng thoả thuận theo Hợp đồng, khoản vay của bà đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 15/01/2024. Dư nợ của khoản vay trên tạm tính đến ngày 18/9/2024 là: 697.551.964 đồng (trong đó: gốc 651.258.702 đồng; lãi 45.329.258 đồng; phí trả chậm 964.004 đồng).
  • - Ngày 30/05/2023, bà Trần Thị M đã ký với Ngân hàng TMCP Đ– Chi nhánh B – P Hợp đồng tín dụng số 01/2023/17683184/HĐTD để vay với số tiền 290.000.000 đồng; Thời hạn vay: 11 tháng; Mục đích: Thanh toán tiền mua sắm trang thiết bị gia đình. Ngày 30/05/2023, bà Trần Thị M đã rút vốn vay số tiền 290.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 18/9/2024, bà Trần Thị M đã trả nợ tổng số tiền 33.550.860 đồng (trong đó: gốc 10.000.000 đồng; lãi 23.550.860 đồng). Sau đó, do không thực hiện đúng thoả thuận theo Hợp đồng, khoản vay của bà đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 02/5/2024. Dư nợ của khoản vay trên tạm tính đến ngày 18/9/2024 là: 300.107.051 đồng (trong đó: gốc 280.000.000 đồng; lãi 14.615.578 đồng; phí trả chậm 5.491.473 đồng)

-Tổng dư nợ của bà M tạm tính đến ngày 18/9/2024 là: 1.827.169.186 đồng, trong đó có 1.706.258.702 đồng nợ gốc, 113.035.521 đồng nợ lãi và 7.874.963 đồng phí quá hạn

Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của mình, bà Trần Thị M đã thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng thửa đất số 68, tờ bản đồ số 13 tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 721196, số vào sổ cấp GCN: CS04434 do Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 18/03/2019 cho ông Trần Viết D và bà Nguyễn Thị T1 và tặng cho bà Trần Thị M ngày 16/06/2022, theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2022/17683184/HĐBĐ ngày 23 tháng 06 năm 2022 ký giữa bà Trần Thị M với Phòng G - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B đã được công chứng tại Văn phòng C ngày 23/06/222, số công chứng: 3352, Quyển số 06/2022TP/CC-SCC/HĐGD. Đăng ký thế chấp ngày 23/06/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B theo đúng quy định.

Trong quá trình quan hệ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B, bà Trần Thị M đã không thực hiện đúng các thỏa thuận, cam kết tại các Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B và để phát sinh nợ quá hạn đối với cả ba Hợp đồng nêu trên.

Sau khi các khoản nợ quá hạn, Ngân hàng Đ đã tìm gặp bà M để làm việc nhiều lần nhưng bà M không trả được nợ theo cam kết. Do đó, Ngân hàng Đ – Chi nhánh B đã khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình buộc Bà Trần Thị M thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B số tiền còn nợ và toàn bộ số tiền lãi và phí phát sinh theo thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng đã ký giữa bà Trần Thị M với Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B cho đến ngày bà Trần Thị M trả hết nợ vay cho Ngân hàng. Trường hợp bà Trần Thị M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và phí cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B, Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ vay.

Về phía bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị M thống nhất trình bày: bà thừa nhận đã ký kết các hợp đồng như đại diện Ngân hàng Đầu tư trình bày gồm: Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/17683184 ngày 24/6/2022; Hợp đồng cấp tín dụng số 02/2022/17683184 ngày 24/6/2022, Hợp đồng tín dụng số 01/2023/17683184/HĐTD ngày 30/5/2023; Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2022/17683184/HĐBĐ ngày 23/6/2022. Số tiền vay, các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, tài sản thế chấp cho ngân hàng đúng như Ngân hàng đã trình bày cũng như nội dung các Hợp đồng đã được Ngân hàng nộp cho Tòa án. Quá trình thực hiện các Hợp đồng vay vốn, sau khi thực hiện được một thời gian thì do kinh tế gia đình gặp khó khăn, có nhiều người vay tiền của bà nhưng không trả nên bà không có tiền trả cho Ngân hàng theo cam kết. Nay Ngân hàng trình bày về số nợ còn lại thì bà cũng nhất trí nhưng xin Ngân hàng cho giãn thời hạn để được trả nợ dần. Trường hợp bà không trả được nợ thì bà đồng ý giao tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 13 tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình để phát mại thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Ngày 21/8/2024, Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số 68, tờ bản đồ số 13 tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Kết quả thẩm định thửa đất hiện có kích thước cụ thể là: Cạnh phía Đông Bắc giáp Khu vực dự án thương mại; Cạnh Tây Nam giáp đường giao thông; Cạnh phía Đông Nam giáp thửa đất số 84; Cạnh phía Tây Bắc giáp thửa số 69; diện tích thửa đất hiện tại là 281,9m², đúng như Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CP721196 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Q cấp ngày 18/3/2019. Hiện tại trên thửa đất không xây dựng bất kỳ công trình, tài sản gì.

Tại phiên tòa,

- Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị M phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 1.827.169.186 đồng, trong đó có 1.706.258.702 đồng nợ gốc, 113.035.521 đồng nợ lãi và 7.874.963 đồng phí quá hạn; tiếp tục trả số tiền lãi phát sinh đến khi thanh toán hết nợ gốc theo cam kết tại các Hợp đồng tín dụng; trong trường hợp bà M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu Tòa án buộc xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ. Ngoài ra có số tiền tạm ứng chi phí tố tụng là 3.000.000 đồng theo thoả thuận cũng như theo quy định thì do bà M phải chịu nhưng Ngân hàng đã nộp tạm ứng cho Toà án nên nay Ngân hàng yêu cầu bà M phải trả lại cho Ngân hàng.

- Bị đơn bà Trần Thị M thừa nhận nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 mà đại diện Ngân hàng đã trình bày tại phiên toà, tuy nhiên hiện bà chưa có điều kiện trả được nợ nên xin thêm thời gian để thu xếp trả nợ. Trường hợp bà không trả được nợ thì nhất trí xử lý tài sản thế chấp theo thoả thuận trong hợp đồng đã ký. Các vấn đề khác yêu cầu giải quyết theo pháp luật.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vấn đề gì vi phạm; nguyên đơn, bị đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 116, 117, 299, 398, 401, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng ngân hàng năm 2010: Chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ, buộc bà Trần Thị M phải trả cho ngân hàng số tiền còn nợ tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết bao gồm nợ gốc 1.706.258.702 đồng, tiền lãi phát sinh tính đến ngày xét xử sơ thẩm (18/9/2024).

Trường hợp bà M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2022/17683184/HĐBĐ ngày 23 tháng 6 năm 2022 được ký kết giữa bà Trần Thị M và Ngân hàng TMCP Đ để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết dư nợ vay thì bà M có nghĩa vụ tiếp tục sử dụng mọi tài sản và thu nhập hợp pháp khác để thanh toán hết số tiền còn lại cho Ngân hàng.

Về chi phí tố tụng: Áp dụng khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng Dân sự buộc bà Trần Thị M phải nộp 3.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ để trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí cho bà Trần Thị M ( Đối tượng người cao tuổi có đơn xin miễn án phí). Trả lại cho Ngân hàng 32.512.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Ba Đồn theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003391 ngày 19/7/2024..

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật: tranh chấp giữa Ngân hàng Đ và bà Trần Thị M phát sinh từ việc thực hiện Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/17683184 ngày 24/6/2022; Hợp đồng cấp tín dụng số 02/2022/17683184 ngày 24/6/2022, Hợp đồng tín dụng số 01/2023/17683184/HĐTD ngày 30/5/2023 giữa hai bên, bị đơn trong vụ án không có đăng ký kinh doanh và không có mục đích lợi nhuận khi giao kết hợp đồng nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Đầu tư và bà Trần Thị M đã tự thỏa thuận bằng văn bản và tại Hợp đồng tín dụng số 01/2023/17683184/HĐTD ngày 30/5/2023 chọn Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình là Tòa án nơi nguyên đơn có Chi nhánh để giải quyết tranh chấp. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

[2] Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn:

2.1. Xét yêu cầu buộc bà Trần Thị M phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Đầu tư số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 1.827.169.186 đồng, trong đó có 1.706.258.702 đồng nợ gốc, 113.035.521 đồng nợ lãi và 7.874.963 đồng phí quá hạn; tiếp tục trả số tiền lãi phát sinh đến khi thanh toán hết nợ gốc theo cam kết tại các Hợp đồng tín dụng. Hội đồng xét xử thấy:

Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/17683184 ngày 24/6/2022; Hợp đồng cấp tín dụng số 02/2022/17683184 ngày 24/6/2022, Hợp đồng tín dụng số 01/2023/17683184/HĐTD ngày 30/5/2023 được ký kết giữa Ngân hàng Đ và bà Trần Thị M là hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung đều tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 117, 119 của Bộ luật dân sự nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng.

Đại diện nguyên đơn và bị đơn đều nhất trí là Ngân hàng đã giải ngân cho bà Trần Thị M nhận đủ số tiền vay của các Hợp đồng tín dụng với tổng số tiền là 1.990.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Trần Thị M đã không thực hiện các nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo đúng cam kết nên khoản vay bà Trần Thị M đã bị chuyển sang nợ quá hạn, cụ thể khoản vay theo Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/17683184 ngày 24/6/2022 chuyển quá hạn vào ngày 15/01/2024; khoản vay theo Hợp đồng cấp tín dụng số 02/2022/17683184 ngày 24/6/2022, chuyển nợ quá hạn vào ngày 15/01/2024; khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 01/2023/17683184/HĐTD ngày 30/5/2023 chuyển nợ quá hạn vào ngày 02/5/2024. Do đó, Ngân hàng Đầu tư khởi kiện bà Trần Thị M yêu cầu trả số tiền còn nợ là có căn cứ.

Tại phiên toà đại diện nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận, tạm tính đến ngày 18/9/2024 bà Trần Thị M còn nợ Ngân hàng TMCP Đ số tiền là 1.827.169.186 đồng, trong đó có 1.706.258.702 đồng nợ gốc, 113.035.521 đồng nợ lãi và 7.874.963 đồng phí quá hạn. Bà Trần Thị M cũng thừa nhận trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng.

Từ những nhận định trên, có thể thấy yêu cầu của Nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với các quy định tại khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, các Điều 365, 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự nên cần được chấp nhận, buộc bà Trần Thị M phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ toàn bộ số tiền còn nợ đã nêu trên và toàn bộ số tiền lãi phát sinh theo thoả thuận tại các hợp đồng đã được ký kết giữa Ngân hàng Đ và bà Trần Thị M.

2.2. Xét yêu cầu trong trường hợp bà M không trả được nợ thì yêu cầu Tòa án buộc xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ:

Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2022/17683184/HĐBĐ ngày 23/6/2022 về việc thế chấp tài sản là Quyền sử dụng thửa đất số 68, tờ bản đồ số 13 tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình được ký kết giữa Ngân hàng Đ và bà Trần Thị M là hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung đều tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 117, 119 của Bộ luật dân sự, đã được đăng ký thế chấp theo đúng thủ tục tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, Hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng. Tại phiên toà bà M cũng đồng ý xử lý tài sản thế chấp nếu bà không trả được nợ.

Vì vậy, Ngân hàng Đ yêu cầu trong trường hợp bà Trần Thị M không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì xử lý tài sản thế chấp là có cơ sở, cần căn cứ quy định tại các Điều 317, 318, 320, 323, 368 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu này.

[3] Về án phí và chi phí tố tụng: theo quy định, bà Trần Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho Ngân hàng Đầu tư là 66.815.000 đồng. Tuy nhiên ngày 29/8/2024 bà M có Đơn xin miễn án phí với lý do là người cao tuổi. Xét thấy bà M thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí cho bà Trần Thị M.

Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện được Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu nên không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 32.512.000 đồng theo Biên lai thu tám ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003391 ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn.

Về chi phí tố tụng: Ngân hàng Đ đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng và có yêu cầu bà M phải trả lại số tiền này là phù hợp với quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, cần chấp nhận buộc bà M phải trả lại số tiền tạm ứng chi phí thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 299, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;

Các Điều 90, 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Các Điều 3, Điều 7, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định “Về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Toà án”.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ: buộc bà Trần Thị M phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền còn nợ tính đến ngày 18/9/2024 là 1.827.169.186 đồng, trong đó có 1.706.258.702 đồng nợ gốc, 113.035.521 đồng nợ lãi và 7.874.963 đồng phí quá hạn. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (18/9/2024) cho đến khi thanh toán hết nợ gốc, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo thỏa thuận trong các Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/17683184 ngày 24/6/2022, Hợp đồng cấp tín dụng số 02/2022/17683184 ngày 24/6/2022 và Hợp đồng tín dụng số 01/2023/17683184/HĐTD ngày 30/5/2023 được ký kết giữa bà Trần Thị M và Ngân hàng TMCP Đ. Trường hợp bà Trần Thị M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là: quyền sử dụng thửa đất số 68, tờ bản đồ số 13 tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình có diện tích là 281,9m² đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CP721196 ngày 18/3/2019 và tài sản gắn liền với thửa đất tại theo Hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ.
  2. Về án phí: bà Trần Thị M được miễn toàn bộ án phí là 66.815.000 đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 32.512.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003391 ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn.
  3. Về chi phí tố tụng: bà Trần Thị M phải trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền chi phí tố tụng là 3.000.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 22/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả nợ, xử lý tài sản thế chấp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger