| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/KDTM-ST
Ngày: 16-4-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Như Thủy;
- Bà Tống Thị Kim Điền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tấn Sang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tú - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 107/2023/TLST-KDTM ngày 04 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-KDTM ngày 20 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐS-KDTM ngày 20 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH T1; Địa chỉ: Số B N, Khu G, Lô S phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện pháp luật: Ông Huỳnh Hữu T – Giám đốc
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim N, sinh năm 1989; địa chỉ: 3 ấp D, Phạm Hữu L, xã P, Nhà B, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền ngày 23/5/2023) (Có mặt)
2. Bị đơn: Công ty TNHH D; Địa chỉ trụ sở: Số A Đường C, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tất H, sinh năm 1972; Địa chỉ: Lô B, khu B, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 5 năm 2023, các bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn Công ty TNHH T1 có bà Lê Thị Kim N là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 13/05/2021, Công ty TNHH D (Sau đây gọi là Công ty D) có liên hệ với Công ty TNHH T1 (Sau đây gọi là Công Ty T.E.CO) để mua hàng hóa là: Nhựa P.... Việc mua bán và đặt hàng thể hiện qua email trao đổi giữa các bên
Sau đó, Công ty T1 đã thực hiện giao dịch mua bán và giao hàng đúng yêu cầu của Công ty NGỰA BIỂN về số lượng và chất lượng, địa chỉ giao hàng tại: Số A Đường C, Phường P, Quận G, TP Hồ Chí Minh (Đính kèm phiếu giao hàng mã số đơn hàng LA12/0521-05 ngày 12/5/2021 và hóa đơn giá trị gia tăng số 2293 ngày 13/5/2021) với tổng tiền của đơn hàng là: 27.360.001 đồng (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn không trăm lẻ một đồng). Số tiền còn nợ đến nay là 27.360.001 (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn không trăm lẻ một) đồng
Kể từ khi nhận được đơn hàng cho đến nay, Công Ty D đã không thực hiện đúng việc thanh toán như đã thỏa thuận ban đầu với Công ty T1. Việc này đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình hoạt động sản xuất và kinh doanh của nguyên đơn.
Ngày 31/8/2022, Công ty T1 và Công Ty D đã thực hiện đối chiếu công nợ, theo đó Công Ty Ngựa Biển xác nhận tính đến ngày 31/8/2022 còn nợ Công ty T1 số tiền là 27.360.001 (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn không trăm lẻ một) đồng.
Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH D Ngựa Biển thanh toán tổng số tiền còn thiếu tính đến ngày 16/4/2024 là 35.188.231 (Ba mươi lăm triệu một trăm tám mươi tám ngàn hai trăm ba mươi mốt) đồng, trong đó tiền nợ đơn hàng là: 27.360.001 (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn không trăm lẻ một) đồng và tiền lãi do chậm thanh toán tính đến ngày xét xử với lãi suất 10%/năm với số tiền là: 7.788.230 (Bảy triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn hai trăm ba mươi) đồng. Tất cả trả làm một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
* Bị đơn Công ty TNHH D đã được Tòa án tiến hành tống đạt, niêm yết triệu tập hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng Công ty TNHH D không đến làm việc và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn Công ty TNHH D. Tòa án cũng tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-KDTM ngày 20 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐS-KDTM ngày 20 tháng 3 năm 2024 nhưng Công ty TNHH D vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, TP.:
- Về tố tụng:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý được quy định tại các điều từ Điều 30 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho các đương sự đúng quy định tại Điều 195, Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự. Về thời hạn chuẩn bị xét xử không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa
Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 91, Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 50; Điều 306 của Luật Thương mại
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về:
- + Nợ gốc: 27.360.001 (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn không trăm lẻ một) đồng;
- + Nợ lãi: 27.360.001 đồng x 10%/năm x (thời điểm tính lãi từ ngày 01/9/2022 đén ngày xét xử)
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về thời điểm tính lãi từ ngày 12/6/2021.
Về án phí KDTM: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Công ty TNHH T1 có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty TNHH D thanh toán tổng số tiền còn nợ là 35.188.231 (Ba mươi lăm triệu một trăm tám mươi tám ngàn hai trăm ba mươi mốt) đồng. Đây là vụ án "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa" là loại tranh chấp được quy định tại Khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo Giấy Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên M, đăng ký lần đầu ngày 28/10/2014, đăng ký thay đổi lần thứ 6 ngày 22/9/2020 do Sở Kế hoạch và đầu tư Thành Phố H cấp thì Công ty TNHH D có trụ sở tại số A Đường C, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo Điểm b Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Bị đơn, Công ty TNHH Dược tống đạt, niêm yết hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn Công ty Tlện yêu cầu bị đơn Công ty Dh toán tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 16/4/2024 là 35.188.231 (Ba mươi lăm triệu một trăm tám mươi tám ngàn hai trăm ba mươi mốt) đồng, trong đó tiền nợ đơn hàng là 27.360.001 (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn không trăm lẻ một) đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 7.788.230 (Bảy triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn hai trăm ba mươi) đồng. Tất cả trả làm một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ cho bị đơn Công ty D văn bản tố tụng của Tòa án gồm: Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-KDTM ngày 20 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐS-KDTM ngày 20 tháng 3 năm 2024 nhưng bị đơn Công ty D mặt không lý do nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 91, Điều 94, Điều 95 và Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì bị đơn Công ty Dự tước bỏ quyền được chứng minh, trình bày ý kiến của mình và phải chịu hậu quả của việc vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận lời khai và tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như các chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[4.1] Căn cứ hóa đơn giá trị gia tăng số 2293 ngày 13/5/2021 và phiếu giao hàng mã số đơn hàng LA12/0521-05 ngày 12/5/2021 giữa Công ty T1 ty D ó đủ cơ sở khẳng định Công ty T1 cấp hàng hóa như thỏa thuận cho Công ty D.
Xét, việc các bên xác lập hợp đồng mua bán hàng hoá là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Do đó, căn cứ Điều 24 Luật Thương mại 2005 thì việc mua bán hàng hóa giữa các bên có hiệu lực.
[4.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền chưa thanh toán theo hóa đơn giá trị gia tăng số 2293 ngày 13/5/2021 và phiếu giao hàng mã số đơn hàng LA12/0521-05 ngày 12/5/2021
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ: hóa đơn giá trị gia tăng số 2293 ngày 13/5/2021 và phiếu giao hàng mã số đơn hàng LA12/0521-05 ngày 12/5/2021 giữa Công ty T1 ty D ó đủ cơ sở khẳng định Công ty T1 cấp hàng hóa cho Công ty D tổng số tiền là 27.360.001 (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn không trăm lẻ một) đồng
Căn cứ vào Bảng đối chiếu công nợ ký ngày 31/8/2022 giữa Công ty T1 ty D Công ty D ác nhận số tiền còn thiếu là 27.360.001 (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn không trăm lẻ một) đồng.
Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ nhưng bị đơn vẫn không thanh toán.
Do đó, căn cứ Điều 50 Luật Thương mại năm 2005, Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền chưa thanh toán là 27.360.001 (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn không trăm lẻ một) đồng là có cơ sở để chấp nhận.
[4.3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền lãi chậm thanh toán là 7.788.230 (Bảy triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn hai trăm ba mươi) đồng
[4.3.1] Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 quy định: "Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác"
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để xác định bị đơn có nghĩa vụ phải trả số tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán trên số tiền chưa thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
[4.3.2] Về mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán:
Căn cứ Án lệ số 09/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 quy định: Để tính lãi suất chậm thanh toán cần phải áp dụng lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị thường tại thời điểm thanh toán. Căn cứ để tính mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị thường theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại thì cần phải áp dụng mức lãi suất quá hạn trung bình của ít nhất ba Ngân hàng tại địa phương. Theo thông tin về mức lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh thông thường từ các Ngân hàng được thu thập cụ thể: Ngân hàng TMCP Chi nhánh S 12.5%/năm; Ngân hàng TMCP Đhi nhánh S 9.2%/năm; Ngân hàng N 1hi nhánh Sà 9%/năm. Do đó mức lãi suất quá hạn trung bình [12.5%+9.2% +9%] : 3 x 150 %= 15.35 %/năm.
Xét thấy, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán với lãi suất 10%/năm, không vượt quá mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.3.3] Về thời điểm bắt đầu tính lãi do chậm thực hiện nghĩa thanh toán
Căn cứ khoản 1 Điều 146 Bộ luật Dân sự 2015 Quy định về thời hạn, thời điểm tính thời hạn như sau: “Một năm là ba trăm sáu mươi lăm ngày; một tháng là 30 ngày”
Nguyên đơn yêu cầu tính lãi đối với hóa đơn giá trị gia tăng số 2293 ngày 13/5/2021, hạn thanh toán ngày 12/6/2021, số ngày quá hạn là 1.039 ngày với số tiền lãi 7.788.230 (Bảy triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn hai trăm ba mươi) đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 31/8/2022 các bên đã tiến hành đối chiếu công nợ, theo đó Công ty D ác nhận số tiền còn thiếu là 27.360.001 (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn không trăm lẻ một) đồng, không nêu số tiền lãi do chậm thanh toán mà bị đơn phải trả. Do vậy, căn cứ vào Bảng đối chiếu công nợ ngày 31/8/2022 thì thời gian tính lãi chậm thanh toán được tính từ ngày 01/9/2022, tính đến ngày xét xử là 19 (mười chín) tháng 15 (mười lăm) ngày trên số tiền gốc là 27.360.001 (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn không trăm lẻ một) đồng.
Như vậy, bị đơn có nghĩa vụ chịu tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc là 27.360.001 (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn không trăm lẻ một) đồng, từ ngày 01/09/2022 đến ngày xét xử 16/4/2024 là 19 (mười chín) tháng 15 (mười lăm) ngày, với lãi suất 10%/năm, số tiền là 5.172.164 (Năm triệu một trăm bảy mươi hai ngàn một trăm sáu mươi bốn) đồng
Do vậy, yêu cầu tính lãi từ ngày 12/6/2021 của nguyên đơn là không có cơ sở để chấp nhận.
[4.4] Về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền còn nợ tất cả làm 01 (Một) lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên với yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Do bị đơn có nghĩa vụ phải trả nợ cho nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên số tiền phải trả theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận
[6] Quyền kháng cáo: Công ty TNHH T1 ty TNHH D có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 91; Điều 94; Điều 95; Điều 108; Điều 147; điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 146 và Điều 440 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 24; Điều 50 và Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;
- - Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- - Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- - Căn cứ Án lệ số 09/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016.
Xử:
1. Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn Công ty TNHH D.
2. Về nội dung:
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T1, buộc bị đơn Công ty TNHH D thanh toán cho nguyên đơn Công ty TNHH T1 do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 27.360.001 (Hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ngàn không trăm lẻ một) đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 5.172.164 (Năm triệu một trăm bảy mươi hai ngàn một trăm sáu mươi bốn) đồng. Tổng cộng là 32.532.165 (Ba mươi hai triệu năm trăm ba mươi hai ngàn một trăm sáu mươi lăm) đồng, tất cả trả làm 01 (Một) lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T1 buộc bị đơn Công ty TNHH D thanh toán số tiền lãi là 2.656.006 (Hai triệu sáu trăm năm mươi sáu ngàn không trăm lẻ sáu) đồng.
3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Nguyên đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 3.000.000 (Ba triệu) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.000.000 (Ba triệu) đồng theo Giấy thu tiền tạm ứng án, lệ phí Tòa án số [...] ngày 04/10/2023, với mã thông báo nộp tiền NOVEU63THE và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2023/0037425 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Vậy nguyên đơn đã nộp đủ.
- Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty TNHH T1 khi thi hành xong số tiền còn thiếu nêu trên, hằng tháng Công ty TNHH D phải trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phương Thảo |
Bản án số 22/2024/KDTM-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 22/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH T1- Cong ty TNHH D - TC Hợp đồng mua bán hàng hóa
