Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG XUÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày 25/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Long.

+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Anh – Cán bộ hưu trí huyện Đồng Xuân và

ông Lê Kim Tám – Giáo viên trường THPT Lê Lợi, huyện Đồng Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng

Xuân, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện VKSND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Trình

Ngọc T - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Minh T1

- Sinh ngày 03 tháng 3 năm 2003 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn K, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; con ông: Không rõ cha và bà Lê Thị N (đã chết); chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 04/8/2020, bị Công an xã X- huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 375.000 đồng về hành vi sử dụng rượu, bia gây mất an ninh trật tự.

- Ngày 16/8/2021, bị Chủ tịch UBND xã X- huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác.

- Ngày 23/02/2022, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 5.000.000 đồng về hành vi mang theo trong người hung khí có khả năng gây sát thương nhằm mục đích gây thương tích cho người khác.

- Ngày 12/8/2022, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 7.250.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích.

(Tất cả các Quyết định trên đều đã chấp hành xong)

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.

2. Huỳnh Thanh T2

(Tên gọi khác: B), Sinh ngày 12 tháng 01 năm 2008 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn K, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 10/12; con ông Huỳnh Thanh T3 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1986; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 22/01/2024, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính Cảnh cáo về hành vi mang theo các loại vũ khí thô sơ nhằm mục đích gây thương tích cho người khác.

Nhân thân:

- Ngày 12/9/2022, bị Công an xã X- huyện Đ xử phạt hành chính Cảnh cáo về hành vi gây mất trật tự công cộng.

- Ngày 23/12/2022, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính Cảnh cáo về hành vi cố ý gây thương tích cho người khác.

- Ngày 24/5/2023, bị Công an xã X- huyện Đ xử phạt hành chính Cảnh cáo về hành vi sử dụng rượu, bia gây mất an ninh trật tự.

(Tất cả các Quyết định trên đều đã chấp hành xong)

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/01/2024 đến nay tại xã X- huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.

3. Bùi Xuân A

(Tên gọi khác: M), Sinh ngày 02 tháng 02 năm 1994 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Bùi H, sinh năm 1955 và bà Lê Thị Mỹ H1, sinh năm 1958; vợ Huỳnh Thị Kiều T4, sinh năm 1988 và có 02 con sinh năm 2018 và năm 2022; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 02/02/2011, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích.

- Ngày 20/12/2011, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 375.000 đồng về hành vi Đánh nhau gây thương tích.

- Ngày 23/7/2013, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 5.300.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích và Gây mất trật tự công cộng.

- Ngày 02/6/2014, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích.

- Ngày 01/8/2014, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ, cất giấu dao trong người nhằm mục đích gây thương tích cho người khác.

- Ngày 21/8/2014, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 5.300.000 đồng về hành vi Gây mất trật tự nơi công cộng, đánh nhau gây thương tích, ném gạch, đá vào nhà người khác, tàng trữ, cất giấu dao trong người nhằm mục đích gây thương tích cho người khác.

- Ngày 19/12/2016, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi Đem quan tài ném vào nhà người khác.

- Ngày 16/5/2017, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác.

(Tất cả các Quyết định trên đều đã chấp hành xong)

- Ngày 31/5/2018, bị TAND huyện Đồng Xuân xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong ngày 15/10/2019.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Huỳnh Thanh T2: Bà Nguyễn Thị Bích L - Sinh năm 1986 (mẹ bị cáo T2); Nơi cư trú: Thôn K, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Minh T1 (Bào chữa trợ giúp pháp lý): Luật sư Trần Thị Như T5 – Luật sư ký hợp đồng của Trung tâm TGPLNN tỉnh P và ông Lương Anh T6 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPLNN tỉnh P. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1. Nguyễn D - Sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Tuấn K - Sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Phạm Anh K1 - Sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.

2. Huỳnh Thị Kiều T4 - Sinh năm 1998; Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Lê Công Tuấn A1 - Sinh năm 1994; Nơi cư trú: KP L, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.

2. Võ Nguyễn L1 - Sinh năm 2002; Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.

3. Hồ Đức H2 - Sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.

4. Phạm Gia B1 - Sinh năm 2006; Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.

5. Hà Phi T7 - Sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.

Tất cả vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 27/01/2024, Lê Minh T1, Võ Nguyên L2, Hồ Đức H2 đến quán C thuộc thôn P- xã X- huyện Đ để uống rượu. Thời điểm này, trong quán có Nguyễn D, Phạm Gia B1, Phạm Tuấn K, Hà Phi T7 cũng đang uống bia tại quán. Lúc này, T1 đi đến bàn của D để mời rượu. Vì nhớ lại sự việc trước đó T1 có đánh B1 nên D dùng tay đánh một cái trúng vào vùng đầu của T1 nhưng không gây thương tích. Bị đánh, T1 đi ra khỏi quán và gọi điện thoại cho Huỳnh Thanh T2 đang ở trọ gần đó đến để đánh D. Gọi điện thoại cho T2 xong, T1 đi bộ ra ngoài đường ĐT647 đứng và gặp Bùi Xuân A đang điều khiển xe mô tô BKS: 78K1 - 227.66 chở Lê Công Tuấn A1 lưu hành theo hướng từ thôn P B đến thôn P. Do thấy T1 có biểu hiện say rượu nên A chở T1 về nhà của A ngủ, nhưng đi được một đoạn thì T1 nhảy xuống xe đi bộ quay lại quán “Chiều Chiều”.

Khi T1 đi đến trước cổng quán thì gặp T2 cầm 01 con dao và 01 cái rựa đến. T2 đưa dao cho T1, còn T2 cầm rựa cùng nhau chạy đến vị trí bàn của D. Thấy vậy, nhóm của D đứng dậy cầm ghế nhựa đánh trả lại. T1 cầm dao chém một cái trúng vào tay của K gây thương tích, K quay lưng bỏ chạy thì bị T2 cầm rựa chém một cái trúng vào lưng gây thương tích. Nhóm

của D tiếp tục cầm ghế, ly nhựa và đẩy khung bàn kim loại để đánh chống trả lại nên T1 và T2 bỏ chạy ra trước quán thì gặp A vừa đến. Thấy T1 và T2 đánh nhau nên A chạy đến cổng quán thì T1 đưa dao cho A cầm, còn T1 lấy cái rựa của T2. A cầm dao xông đến chém 01 cái về phía D nhưng D cầm ghế nhựa đỡ được nên không trúng mà làm cho D vấp vào biển hiệu trước quán ngã chúi người về phía trước. Thấy vậy, K hất khung bàn kim loại về phía A rồi chạy vào bên trong quán. A đuổi theo cầm dao chém một cái về hướng K nhưng do K vấp ngã nên không trúng. Lúc này, A không chém nữa mà dùng chân đạp 01 cái trúng vào vùng mặt của K gây thương tích.

Thời điểm này ở trước quán, khi D bị vấp ngã, T1 cầm rựa chém nhiều cái trúng vào vùng lưng, gót chân phải của D gây thương tích; còn T2 dùng ghế nhựa đánh nhiều cái trúng vào trán và mặt của D gây thương tích. Bị đánh, D bỏ chạy xuống mương nước ở trước quán thì T1 và T2 đuổi theo, T2 cầm rựa còn T1 dùng đá ném về hướng Diện. Sau đó, T2 nhặt 01 đoạn cây gỗ cùng T1 nhảy xuống mương nước dùng đoạn cây gỗ và tay đánh nhiều cái trúng vào trán, vai của D gây thương tích. Lúc này, A vừa chạy đến nghe D kêu cứu nên A hô lớn bảo T1 và T2 không đánh D nữa nên cả hai trèo lên bờ; còn A cùng mọi người xuống mương nước đưa D đến Trạm y tế xã X để cấp cứu.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 45/KLTTCT-PYPY, ngày 31/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn D tại thời điểm giám định là 21%; Vật tác động: Vật tày + Vật có cạnh sắc.

Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 155/KLTTCT-PYPY ngày 27/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn D tại thời điểm giám định là 36%.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 46/KLTTCT-PYPY, ngày 31/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Tuấn K tại thời điểm giám định là 06%; Vật tác động: Vật tày + Vật có cạnh.

Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 09/KL-ĐGTTHS ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: Tổng giá trị của tài sản bị thiệt hại vào ngày 27/01/2024 là 1.585.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSĐX ngày 28/8/2024 của VKSND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên đã truy tố các bị cáo Lê Minh T1, Huỳnh Thanh T2, Bùi Xuân A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

* Kiểm sát viên luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng; Kết luận các bị cáo Lê Minh T1, Huỳnh Thanh T2, Bùi Xuân A phạm tội "Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Lê Minh T1, Huỳnh Thanh T2, Bùi Xuân A; Bị cáo Lê Minh T1 bị áp dụng thêm điểm e, o khoản 1 Điều 52 BLHS; Bị cáo Huỳnh Thanh T2 bị áp dụng thêm điểm e khoản 1 Điều 52 BLHS, được áp dụng thêm Điều 91, khoản 1 Điều 101 BLHS; Bị cáo Bùi Xuân A được áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 BLHS. Xử phạt:

+ Bị cáo Lê Minh T1 từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam 31/01/2024.

+ Bị cáo Huỳnh Thanh T2 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

+ Bị cáo Bùi Xuân A từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam 31/01/2024.

- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho những người bị hại với tổng số tiền là 104.000.000đ. Tại phiên tòa, những người bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm khoản nào khác, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Riêng người bị hại Nguyễn D được nhận số tiền 2.000.000₫ mà bị cáo T2 đã nộp bồi thường cho bị hại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân.

- Về vật chứng:

+ Đề nghị HĐ XX áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Tịch thu tiêu huỷ vật chứng là công cụ phạm tội và vật chứng không còn giá trị sử dụng.

+ Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Trả lại tài sản cho bị cáo không dùng vào việc phạm tội là chiếc xe máy bị cáo Bùi Xuân A sử dụng (xe này của vợ bị cáo A), 01 điện thoại bị cáo Lê Minh T1 và 02 thẻ nhớ cho người liên quan Nguyễn Phạm Anh K1.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Minh T1 - Luật sư Trần Thị Như T5 trình bày: Thống nhất với tội danh truy tố cũng như các tình tiết giảm nhẹ mà VKS đã đề nghị đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS vì bị cáo bị kích động về tinh thần do hành vi dùng tay đánh vào đầu bị cáo của người bị hại; đề nghị HĐXX không áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS

quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 BLHS vì hành vi gây thương tích cho bị hại của bị cáo T1 là liên tục, khi bị hại D chạy xuống mương nước thì không có ai can ngăn bị cáo, nên hành vi của bị cáo không phải là cố ý thực hiện tội phạm đến cùng; bị cáo Lê Minh T1 phạm tội khi tuổi đời còn trẻ, là độ tuổi vốn bốc đồng, suy nghĩ chưa chín chắn. Ngoài ra, bị cáo còn có hoàn cảnh rất đáng thương, cha không rõ, mẹ thì mất sớm, ở với bà ngoại đã 92 tuổi nên thiếu tình thương và sự dạy bảo của cha mẹ. Đến nay, bị cáo đã hoàn toàn nhận thức được việc làm sai trái của mình, bị cáo vô cùng ăn năn hối hận và mong muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nói trên. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, quyết định mức hình phạt thấp hơn mức án mà đại diện VKS giữ quyền công tố đề nghị; cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, để bị cáo sớm được trở về với gia đình, chăm sóc bà ngoại và gầy dựng lại cuộc sống tương lai cho mình.

* Ông Lương Anh T6 (bào chữa cho bị cáo Lê Minh T1) thống nhất như lời bào chữa của Luật sư Trần Thị Như T5 và không trình bày bào chữa gì thêm.

- Trong quá trình điều tra bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng khai phù hợp với nội dung bản Cáo trạng. Tại phiên tòa, những người bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Kiều T4 xin HĐXX trả lại chiếc xe máy mà bị cáo A sử dụng; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Phạm Anh K1 đã nhận bồi thường của các bị cáo về khoản thiệt hại của mình, không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin HĐXX trả lại 02 thẻ nhớ đã giao nộp cho CQĐT.

- Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo khai phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, không tranh luận gì, các bị cáo xin Tòa giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng nhưng xét thấy những người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 BLTTHS.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20h00' ngày 27/01/2024, tại thôn P, xã X, huyện Đ, vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, Lê Minh T1, Huỳnh Thanh T2, Bùi Xuân A đã dùng dao, rựa, đoạn cây gỗ, ghế nhựa (là hung khí nguy hiểm) đánh, chém Nguyễn D gây thương tích. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ với bị hại (đối với bị cáo trung), không có mâu thuẫn gì với người bị hại (bị cáo T2, A) mà sẵng sàng dùng vũ lực và đã dùng dao rựa, đá, ghế nhựa (hung khí nguy hiểm) gây thương tích cho bị hại Nguyễn Diện 3 và Phạm Tuấn K 06%. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội cố ý gây thương tích với hai tình tiết là có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm, nên Cáo trạng của VKSND huyện Đồng Xuân truy tố các bị cáo Lê Minh T1, Huỳnh Thanh T2 và Bùi Xuân A về tội "Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo Lê Minh T1, Huỳnh Thanh T2, Bùi Xuân A nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sức khỏe người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Các bị cáo đã dùng dao, rựa, đoạn cây gỗ, ghế nhựa (là hung khí nguy hiểm) để chém người bị hại Nguyễn D gây thương tích 36% và Phạm Tuấn K gây thương tích 06%, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, nên đối với các bị cáo cần áp dụng một hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều thống nhất ý chí phạm tội nhưng không có sự câu kết chặt chẽ với nhau khi thực hiện tội phạm. Xét vai trò, tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo nhận thấy:

[3.1] Đối với bị cáo Lê Minh T1: Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, bị cáo đã rủ rê, xúi giục bị cáo Huỳnh Thanh T2 (chưa đủ 18 tuổi) chuẩn bị hung khí nguy hiểm là dao, rựa và cùng với T2, Bùi Xuân A dùng rựa, dao chém những người bị hại gây thương tích 36% và 06%; khi bị hại D bị đánh chạy xuống mương nước trước quán, lẽ ra bị cáo phải dừng lại nhưng bị cáo đã cùng bị cáo T2 đuổi theo dùng đá ném, dùng cây gỗ đánh gây thương tích. Trước đây, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về nhiều hành vi khác nhau, trong đó có hành vi

xâm hại sức khỏe người khác nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân, điều đó chứng tỏ khả năng tự cải tạo của bị cáo rất kém. Bị cáo thực hiện tội phạm một cách tích cực, quyết liệt, phạm tội đến cùng, xúi giục người chưa thành biên phạm tội, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra cao hơn so với các bị cáo còn lại trong cùng vụ án, nên đối với bị cáo cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cao hơn so với các bị cáo khác trong cùng vụ án và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động người thân bồi thường cho người bị hại số tiền 35 triệu đồng; người bị hại Nguyễn D cũng có một phần lỗi; những người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh đáng thương (cha không rõ, mẹ thì mất sớm, ở với bà ngoại đã 92 tuổi); bị cáo có bà ngoại ruột là người có công với cách mạng; tỷ lệ thương tích của bị hại ở mức khởi điểm của khung hình phạt, nên HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và chỉ cần xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

- Đối với ý kiến đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi các bị cáo chém, đánh bị hại Nguyễn D1 thì bị hại không còn sức chống cự, đã chạy thoát được xuống mương nước nhưng bị cáo không chấm dứt hành vi của mình mà tiếp tục truy đuổi, dùng đá ném, dùng tay đánh gây thương tích cho bị hại, ý thức của bị cáo là mong muốn gây thương tích cho bị hại đến cùng nên không chấp nhận ý kiến bào chữa của Luật sư. Đối với đề nghị HĐXX áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS: Khi bị hại Nguyễn D dùng tay đánh vào đầu của bị cáo thì bị cáo đã ra ngoài và gọi điện thoại rủ đến đánh bị hại, sau đó bị cáo còn được bị cáo A chở về nhà; bị cáo có đủ thời gian để suy nghĩ, hoàn toàn tự chủ được hành vi của mình, có thể tự kiềm, có thể lựa chọn cách xử sự phù hợp hơn nhưng bị cáo đã không làm vậy mà gọi điện rủ T2 chuẩn bị hung khí và xông vào chém những người bị hại một cách quyết liệt, hành vi của bị cáo T1 không thỏa mãn điều kiện để được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS, nên không chấp nhận ý kiến của Luật sư cho bị cáo.

[3.2] Đối với bị cáo Huỳnh Thanh T2: Bị cáo là người tham gia thực hiện tội phạm với vai trò tích cực (chỉ sau bị cáo T1), khi được bị cáo Lê Minh T1 rủ rê thì chuẩn bị hung khí, đem đến đưa cho T1 và cùng với T1, A đánh chém các bị hại gây thương tích; cùng bị cáo T1 rượt đuổi và đánh bị hại D trong lúc bị hại đã chạy xuống mương nước. Hành vi của bị cáo thể

hiện tính côn đồ, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, xem thường pháp luật. Trước đây, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về nhiều hành vi khác nhau, trong đó có hành vi xâm hại sức khỏe người khác, có 01 tiền sự về hành vi mang theo các loại vũ khí thô sơ nhằm mục đích gây thương tích cho người khác nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân, điều đó chứng tỏ khả năng tự cải tạo của bị cáo rất kém. Vai trò, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo T2 gây ra thấp hơn bị cáo T1 nhưng cao hơn so với bị cáo A trong cùng vụ án, nên đối với bị cáo cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi trái pháp luật của mình; đã bồi thường thiệt hại số tiền 2.000.000 đồng và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có ông nội ruột, ông ngoại ruột là người có công với cách mạng, nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Bị cáo phạm tội ở độ tuổi chưa thành niên (16 tuổi 15 ngày), tuổi đang hoàn thiện nhân cách, chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về hành vi của bản thân, nên áp dụng qui định tại các Điều 91, khoản 1 Điều 101 BLHS đối với bị cáo, xử phạt bị cáo mức hình phạt bằng ¼ mức hình phạt đối với người đã thành niên.

[3.3] Đối với bị cáo Bùi Xuân A: Bị cáo là người tham gia thực hiện tội phạm với vai trò giúp sức tích cực về mặt tinh thần và cùng với các bị cáo T1, T2 gây thương tích cho các bị hại. Hành vi của bị cáo thể hiện bị cáo là người xem thường pháp luật; trước đây, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về nhiều hành vi khác nhau, trong đó có hành vi xâm hại sức khỏe người khác nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân, điều đó chứng tỏ khả năng tự cải tạo của bị cáo rất kém, nên đối với bị cáo cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi trái pháp luật của mình; thương tích của các bị hại không phải do bị cáo trực tiếp gây ra nhưng đã chủ động bồi thường phần lớn thiệt hại số tiền 65 triệu đồng cho những người bị hại và được những người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; trong vụ án này, sau khi thấy bị cáo T1, T2 đánh bị hại D ở dưới mương nước, bị cáo A đã hô lớn bảo dừng lại, làm giảm hậu quả xảy ra và cùng mọi người xuống mương nước đưa D lên đi cấp cứu; bị cáo có ông nội vợ là có công với cách mạng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, nên áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 BLHS, xử

phạt bị cáo một mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Đối với thương tích của Lê Minh T1 và Huỳnh Thanh T2: Quá trình điều tra đủ cơ sở xác định vì bị đánh nên nhóm của Nguyễn D đã đánh lại T2 và T1 để phòng vệ. Mặc khác, do thương tích nhẹ, T2 và T1 đã tự nguyện viết đơn từ chối giám định thương tích, không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý.

Đối với hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản: Trong quá trình đánh nhau Nguyễn D, Phạm Tuấn K, Phạm Gia B1, Hà Phi T7, Võ Nguyên L2 và các bị can Lê Minh T1, Huỳnh Thanh T2 đã làm hư hỏng một số tài sản của quán. Do tài sản bị hư hỏng có giá trị dưới 2.000.000 đồng và không có yếu tố định tội khác nên hành vi không cấu thành tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ sẽ đề nghị xử lý hành chính theo quy định.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho người bị hại, tổng cộng số tiền 104 triệu đồng. Tại phiên tòa, những người bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác nên không xét giải quyết. Ngoài số tiền những người bị hại đã nhận thì người bị hại Nguyễn D được nhận số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) mà bị cáo T2 bồi thường cho bị hại tại Ủy nhiệm chi số 11 lập ngày 5/9/2024 của Công an huyện Đ nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân.

[6] Về vật chứng vụ án:

- 01 (một) đầu camera màu trắng đen, nhãn hiệu “IMOU”; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen; 02 (hai) đôi dép giả da màu nâu, hiệu “VENDOS”; 01 (một) đôi dép giả da màu nâu đen; 01 (một) đôi dép nhựa màu đen; 01 (một) cái rựa không nhãn hiệu, dài 60cm; 01 con dao không nhãn hiệu dài 46cm; 01 (một) đoạn cây gỗ dạng hình hộp chữ nhật, màu vàng nâu, dài 103cm; 10 (mười) viên đá màu vàng nâu, xám đen; 03 (ba) cái ghế nhựa cùng loại, dạng tựa, màu xanh dương trắng, nhãn hiệu “QUI PHÚC”; 01 (một) cốc nhựa trong suốt, có quai; Một số mảnh vỡ gạch men màu nâu là những vật các bị cáo dùng vào việc phạm tội và là vật không còn giá trị sử dụng, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c Điều 106 BLTTHS.

- 01 điện thoại di động có vỏ màu trắng, nhãn hiệu Nokia của bị cáo Lê Minh T1 gọi cho bị cáo Huỳnh Thanh T2 rủ rê đánh nhau, đây là công cụ, phương tiện phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter màu sơn đen, biển số 78K1 - 227.66 mà bị cáo Bùi Xuân A sử dụng (đứng tên chị Huỳnh Thị Kiều T4) không dùng vào việc phạm tội; 01 (một) thẻ nhớ hiệu IMOU, 64GB và 01 (một) thẻ nhớ hiệu HIKVISION, 64GB là tài sản hợp pháp của người liên quan Nguyễn Phạm Anh K1 không liên quan đến tội phạm nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên trả lại cho chủ sở hữu theo điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

(Các vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân).

[7] Về án phí: Bị cáo Bùi Xuân A phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Riêng các bị cáo Lê Minh T1, Huỳnh Thanh T2 thuộc diện hộ cận nghèo nên xét miễn án phí HSST đối với các bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Lê Minh T1, Huỳnh Thanh T2, Bùi Xuân A phạm tội "Cố ý gây thương tích".

1. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e, o khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo Lê Minh T1. Xử phạt bị cáo Lê Minh T1 05 (năm) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam 31/01/2024.

- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 91, khoản 1 Điều 101 BLHS đối với bị cáo Huỳnh Thanh T2. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T2 03 (ba) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 BLHS đối với bị cáo Bùi Xuân A. Xử phạt bị cáo Bùi Xuân A 03 (ba) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam 31/01/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại Nguyễn D được nhận số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) mà bị cáo Huỳnh Thanh T2 bồi thường tại Ủy nhiệm chi số 11 lập ngày 5/9/2024 của Công an huyện Đ nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đầu camera màu trắng đen, nhãn hiệu “IMOU”; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen; 02 (hai) đôi dép giả da màu nâu, hiệu “VENDOS”; 01 (một) đôi dép giả da màu nâu đen; 01 (một) đôi dép nhựa màu đen; 01 (một) cái rựa không nhãn hiệu, dài 60cm; 01 con dao không nhãn hiệu dài 46cm; 01 (một) đoạn cây gỗ dạng hình hộp chữ nhật, màu vàng nâu, dài 103cm; 10 (mười) viên đá màu vàng nâu, xám đen; 03 (ba) cái ghế nhựa cùng loại, dạng tựa, màu xanh dương trắng, nhãn hiệu “QUI PHÚC”; 01 (một) xô nhựa màu xanh dương, có dòng chữ “XÔ ĐÁ”; 01 (một) cốc nhựa trong suốt, có quai; Một số mảnh vỡ gạch men màu nâu.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động có vỏ màu trắng, nhãn hiệu Nokia của bị cáo Lê Minh T1.

- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Kiều T4 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter màu sơn đen, biển số 78K1 - 227.66.

- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Phạm Anh K1 01 (một) thẻ nhớ hiệu IMOU 64GB và 01 (một) thẻ nhớ hiệu HIKVISION 64GB.

(Các vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân).

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12, 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Xuân A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo Lê Minh T1, Huỳnh Thanh T2.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên (P.KT-NV);
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND huyện Đồng Xuân;
  • - Công an huyện Đồng Xuân;
  • - CC THADS huyện Đồng Xuân;
  • - Những người tham gia tố tụng;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Vĩnh Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger