TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày 07 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Lâm Đồng
Thẩm phán: Ông Bùi Thanh Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Trần Hiếu
Ông Mai Văn Bé
Ông Phạm Phú Trường Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Cần - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Các ông Phan Hữu Long và Dương Thanh A - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Danh Tròn, Sinh ngày 20 tháng 02 năm 1981, tại Kiên Giang.
Nơi cư trú: ấp M, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: khơ me; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh B và bà Thị T; có vợ là Nguyễn Thị R và 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Luật sư Huỳnh Chí T1 – Công ty L - Đoàn Luật sư thành phố C. Có mặt.
- Người bị hại: Trần Văn H (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp bị hại:
Bà Nguyễn Hoài T2, sinh năm 1994. Có mặt.
Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Trần Văn Tiến Đ; sinh ngày 16/10/2019. Có mặt.
2/ Trần Văn Hữu N, sinh ngày 28/11/2017. Có mặt.
Đại diện theo pháp luật cho cháu Đ và N:
Bà Nguyễn Hoài T2, sinh năm 1994 – Là mẹ ruột. Có mặt.
Cùng nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang
3/ Bà Lê Thị T3, sinh năm 1975 – Là mẹ bị hại. Có mặt.
Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang.
4/ Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1988 – Vợ bị cáo. Có mặt.
Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang
- Người làm chứng:
1/ Phạm Văn Ú, sinh năm 1980. Có mặt.
Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang.
2/ Huỳnh Hữu N1 (Chuối lửa), sinh năm 1982. Có mặt.
Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang.
3/ Nguyễn Hoàng N2 (H), sinh năm 1984. Có mặt.
Nơi thường trú: Ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
Nơi ở hiện tại: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ.
4/ Phạm Văn N3, sinh năm 1987. Có mặt.
Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ.
5/ Phạm Văn H1, sinh năm 1991. Có mặt.
Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang.
6/ Nguyễn Văn T4, sinh năm 1981. Vắng không lý do.
Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 09 tháng 12 năm 2023, Danh T5 đến dự đám giỗ tại nhà Nguyễn Văn T4 tại ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang. Tại đây, T5 có gặp Nguyễn Hoàng N2 (H), T5 hỏi Nam mượn 1.000.000 đồng, được anh N2 đồng ý và hẹn đến chiều sẽ đưa tiền cho T5. Đến khoảng 12 giờ, N2 ra về trước đến nhà Phạm Văn Ú nhậu tiếp.
Tại nhà của Ú địa chỉ ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang gồm có 04 người là Ú, H, N2, N1 (chuối lửa) đang uống bia và hát karaoke bằng loa thùng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T5 ra về, đi tìm N2 để nhận tiền hỏi mượn trước đó. Khi đến nhà Ú thì T5 gặp N2, T5 nói chuyện với N2 thì N2 hẹn đến 16 giờ sẽ đưa tiền cho T5. Lúc này, T5 nói với Ú “Dàn nhạc này nhỏ, ca không hay, ông trả người ta đi tôi kêu dàn nhạc lớn về chơi”, anh Ú nói lại với T5 “Nhà tao, tao muốn chơi sao thì chơi”, “mày không được vô nhà tao” Tròn có cự cãi với nhóm của Ú, T5 chửi Ú rồi đi ra ngồi ghế đá đặt sát đường lộ nông thôn, gần nơi Ú đang tổ chức nhậu. Nghe T5 chửi, Ú cầm ly thủy tinh đang uống bia đi đến gần chỗ T5 ngồi và ném ly trúng vào ngực phải của T5, làm cho T5 bị đau và ôm ngực, cùng lúc này, vợ của T5 là Nguyễn Thị R đang ở nhà nghe tiếng Tròn cự cãi bên nhà Ú nên đi qua can ngăn và đưa T5 đi về nhà.
Do T5 tức giận về việc bị Ú ném ly vào ngực, nên nảy sinh ý định quay lại đánh trả thù Ú, T5 xuống bếp lấy 01 con dao Thái Lan cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn dài khoảng (21x30 cm) bỏ vào túi quần bên phải rồi đi qua ngồi ghế đá cặp đường lộ nông thôn thuộc ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ cách nhà Ú khoảng 05 mét. Thấy T5 đến ngồi ở ghế đá, Trần Văn H đứng lên, đi lại gần chỗ T5, hai bên cự cãi, H đưa tay lên định đánh T5, T5 dùng tay phải lấy con dao trong túi quần ra đâm mạnh một nhát trúng vào vùng bụng bên trái của anh H, rồi rút dao ra và cầm dao bỏ chạy về nhà cất giấu con dao tại nhà bếp. Đến 16 giờ 30 phút, T5 đến công an xã V, huyện V đầu thú.
Hộ sau khi bị T5 đâm trúng bị thương đi được vài bước thì gục xuống đất được Ú, N1 đưa đến Trạm y tế xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ để cấp cứu. Do vết thương quá nặng nên tiếp tục chuyển đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu. Đến khoảng 21 giờ 25 phút, H đã tử vong.
Tang vật thu giữ gồm:
- 01 (một) quần Jean dài màu xanh đã bị cắt xẻ hai ống quần; 01 (một) áo thun xanh ngắn tay đã bị cắt xẻ dọc theo thân áo, cổ có dòng chữ “New S - Disuo”; 01 (một) dây thắt lưng bằng da màu đen dài 120 cm, rộng 04 cm của H.
- 01 (một) cây dao cán nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 21 cm;
- 01 (một) áo sơ mi dài tay màu trắng, có sọc ngang đen ở trước ngực có chữ “Gthe Dragon”; 01 (một) quần Jean dài màu đen đều của Danh T5.
- 01 (một) ly thủy tinh trong suốt có quai cầm, thân ly có dòng chữ “B1 red Ruby” cao 11 cm, đường kính 07 cm của Ú;
- 01 (một) khúc tre có chiều dài 113 cm, đường kính 3,9 cm.
- Chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 180/KLGĐTT-PC09 ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an thành phố C kết luận: Nạn nhân Trần Văn H tử vong do sốc mất máu cấp, sau đứt thủng đa nội tạng do vật sắc nhọn gây ra, trên cơ địa viêm gan mạn.
Tại bản Kết luận giám định số 31/KLGĐ-KTHS-SV ngày 22/12/2023 của Phòng K Công an thành phố C kết luận:
- Máu của bị can Danh T5 thuộc nhóm máu A.
- Máu ghi thu của nạn nhân Trần Văn H thuộc nhóm máu O.
- Vết màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường vị trí số 3 (A1), quần Jean dài màu xanh (A2) và áo thun màu xanh (A3) ghi do bà Nguyễn Hoài T2, vợ nạn nhân H giao nộp là máu người, thuộc nhóm máu O, trùng với nhóm máu nạn nhân Trần Văn H.
- Trên dây thắt lưng (A4), cây dao thái lan (A9) có máu người, lượng vết ít nên không xác định được nhóm máu.
- Trên áo sơ mi màu trắng tay dài (A5), quần jean dài màu đen (A6) ghi do T5 giao nộp, ly thủy tinh (A7), đoạn tre (A8) không có vết máu.
Kết luận giám định mô bệnh học số X66-2023/KLMBH-GPB ngày 27/12/2023 của Kho giải phẩu Bệnh viện Q kết luận: Hộ gồm có các tổn thương: sung huyết tĩnh (ú huyết) nhu mô phổi mãn tính; viêm gan mạng; các cơ quan khác phù nề, sung huyết.
Về trách nhiệm dân sự: Đại điện gia đình bị hại yêu cầu Danh Tròn có trách nhiệm bồi thường toàn bộ chi phí cấp cứu, chi phí mai táng và tổn thất tinh thần với tổng số tiền 66.000.000 đồng; yêu cầu Danh Tròn có trách nhiệm cấp dưỡng cho hai con của nạn nhân là cháu Trần Văn Hữu N, sinh năm 2017 và cháu Trần Văn T6 Đ, sinh năm 2019 đến khi đủ 18 tuổi theo đúng quy định pháp luật.
Đến nay, gia đình Danh T5 đã khắc phục được số tiền 16.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 11/CT-VKS-P2 ngày 12 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ truy tố Danh Tròn về tội Giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dụng cáo trạng quy kết. Bị cáo cho rằng sau khi cự cãi với nhóm Ú và bị Ú ném cái ly trúng ngực, sau đó được can ngăn, vợ bị cáo đưa bị cáo về nhà; bị cáo bực tức mới có ý định lấy con dao bỏ túi quần và quay lại muốn đâm Ú nhưng khi quay lại đến chỗ nhà Ú thì bị hại chạy ra trước, có ý định đánh bị cáo nên bị cáo mới đâm bị hại, bị cáo chỉ muốn đâm gây thương tích cho bị hại, chứ không có ý định tướt đoạt mạng sống của bị hại.
Đồng thời, bị cáo đồng ý thỏa thuận với đại diện bị hại về phần dân sự, bị cáo sẽ khắc phục cho bị hại 66 triệu đồng, khấu trừ tiền gia đình bị cáo đã nộp trong quá trình điều tra là 16 triệu đồng, bị cáo tiếp tục bồi thường 50 triệu đồng; đồng ý thỏa thuận với đại diện bị hại, bị cáo sẽ cấp dưỡng hàng tháng cho hai con của bị hại đến khi đủ 18 tuổi, tình từ tháng 5 năm 2024, với số tiền 1,8 triệu đồng cho hai con.
Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo đã biết sai, xin lỗi gia đình bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh, điều khoản Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị hội đồng xét xử xem xét thêm tình tiết tự thú tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xem xét thêm tình tiết gia đình bị hại có đơn xin giảm án cho bị cáo; bên cạnh đó giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẩn từ trước, bị cáo quay lại mục đích muốn đâm Ú nhưng H chạy ra trước bị cáo mới đâm Hộ, đề nghị xem xét có phần lỗi của bị hại.
Từ các lý do trên, đề nghị hội đồng xét xử xem xét các điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xem xét cho bị cáo mức án dưới khung hình phạt.
Đại diện bị hại yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Đồng thời, đồng ý thỏa thuận với bị cáo về phần dân sự với số tiền 66 triệu đồng, khấu trừ số tiền gia đình bị cáo đã nộp trong quá trình điều tra là 16 triệu đồng, bị cáo tiếp tục bồi thường 50 triệu đồng cho đại diện bị hại; đồng ý thỏa thuận việc bị cáo sẽ cấp dưỡng hàng tháng cho hai con của bị hại đến khi đủ 18 tuổi, tình từ tháng 5 năm 2024, với số tiền 1,8 triệu đồng cho hai con.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị R (vợ bị cáo) đề nghị hội đồng xét xử xem số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại, do hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, mới có việc làm vài tháng nay, còn phải lo cho gia đình.
Những người tham gia tố tụng khác bảo lưu lời khai đã trình bày trong quá trình điều tra, truy tố; Không trình bày gì thêm.
Không có ai cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu về các tình tiết mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Danh Tròn theo tội danh và điều luật như quyết định Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo mức từ 19 đến 20 năm tù.
Về phần trách nhiệm dân sự: Đề nghị công nhận thỏa thuận giữa phía bị hại và bị cáo tại phiên tòa. Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 50 triệu đồng và tiền cấp dưỡng cho 02 con của bị hại mỗi tháng 1,8 triệu đồng, từ tháng 5/2024 đến khi đủ 18 tuổi.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy các tang vật không có giá trị sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố tuân thủ các quy định của Pháp luật, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.
[2] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo T5 thừa nhận đã thực hiện hành vi dùng dao đâm một nhát vào vùng bụng của H dẫn đến cái chết của H.
Qua lời nhận tội của bị cáo T5 đối chiếu với những lời khai, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ như kết luận giám định tử thi, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản nhận dạng hung khí đã cho thấy hoàn toàn phù hợp nhau. Từ đó có cơ sở khẳng định, chỉ vì sau khi đi đám giỗ, T5 đã uống rượu, bia. Khi T5 trên đường về nhà thì có tìm N2 để nhắc lại việc hỏi mượn tiền đã hỏi mượn tại đám trước đó. Khi gặp N2 tại nhà Ú thì T5 có mẫu thuẩn với nhóm đang nhậu tại nhà Ú, T5 có cự cãi qua lại và bị Ú chọi cái ly thủy tinh trúng vào ngực. Sau đó, T5 được vợ đưa về nhà, vì bực tức bị Ú chọi cái ly vào ngực, nên T5 nảy sinh ý định lấy con dao thái lan bỏ túi quần rồi quay lại chỗ nhà Ú với mục định dùng làm hung khí khi có đánh nhau. Khi đến cách nhà Ú khoảng 5m, T5 ngồi ghế đá, H thấy T5 nên đứng lên và đi lại gần chỗ T5, hai bên cự cãi, H đưa tay lên định đánh T5, T5 dùng tay phải lấy con dao trong túi quần ra đâm mạnh một nhát trúng vào vùng bụng bên trái của H, rồi rút dao ra và cầm dao bỏ chạy về nhà, cất giấu con dao trong nhà bếp, hậu quả dẫn đến cái chết của H.
Từ những tình tiết chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Danh T5 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tại điểm n là phạm tội có tính chất côn đồ.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi, phạm tội:
Do đã có uống rượu, bia từ trước. Chỉ vì bực tức vì bị Ú chọi cái ly trúng ngực T5 trước đó nên có ý định dùng hung khí quay lại để sử dụng khi có đánh nhau. Bị cáo và bị hại không có mâu thuẩn từ trước nhưng T5 đã dùng dao thái lan đâm bị hại một nhát, tước đi mạng sống người bị hại. Đều đó thể hiện tính hung hãn, côn đồ của bị cáo. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, tước đi sinh mạng của con người, hành vi đó thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường tính mạng của người khác, gây xôn xao dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần phải có mức hình phạt nghiêm, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài có như vậy mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Ngoài tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ được áp dụng tình tiết định khung, bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào khác.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã ăn năn, hối cãi; gia đình bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả thay cho bị cáo, đại diện bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sau khi gây án bị cáo đã ra đầu thú; có nhân thân tốt; bị cáo đã thỏa thuận được với đại diện bị hại về phần trách nhiệm dân sự và cấp dưỡng cho hai con của bị hại. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng:
Các vật chứng đã thu giữ theo lệnh nhập kho và biên bản bàn giao vật chứng, xét đó là những công cụ phạm tội và là những tài sản không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[5] Về trách nhiệm dân sư:
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện gia đình bị hại, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường tổng số tiền 66.000.000 đồng, khấu trừ số tiền 16.000.000 đồng gia đình bị cáo đã khắc phục trước đó, buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho đại diện phía bị hại số tiền 50.000.000 đồng
Đồng thời, buộc bị cáo cấp dưỡng cho hai con của bị hại là Trần Văn Hữu N, sinh ngày 28/11/2017 và Trần Văn Tiến Đ, sinh ngày 16/10/2019, mỗi tháng 1.800.000 đồng cho đến khi đủ 18 tuổi.
[6] Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố bị cáo Danh T5 phạm tội Giết người.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 47, Điều 48; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Các Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các Điều 584, 585, 591, 593 của Bộ luật Dân sự.
Điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Điều 2, Điều 3, Điều 8 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Xử phạt: Danh T5 19 (mười chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/12/2023.
2/ Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
- 01 (một) quần Jean dài màu xanh đã bị cắt xẻ hai ống quần; 01 (một) áo thun xanh ngắn tay đã bị cắt xẻ dọc theo thân áo, cổ có dòng chữ “New S - Disuo”; 01 (một) dây thắt lưng bằng da màu đen dài 120 cm, rộng 04 cm của H.
- 01 (một) cây dao cán nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 21 cm;
- 01 (một) áo sơ mi dài tay màu trắng, có sọc ngang đen ở trước ngực có chữ "Gthe Dragon"; 01 (một) quần Jean dài màu đen đều của Danh T5.
- 01 (một) ly thủy tinh trong suốt có quai cầm, thân ly có dòng chữ “B1 red Ruby” cao 11 cm, đường kính 07 cm của Ú;
- 01 (một) khúc tre có chiều dài 113 cm, đường kính 3,9 cm.
3/ Về trách nhiệm dân sự:
Công nhận thỏa thuận giữa bị cáo với người đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa. Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho đại diện phía bị hại số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng; Buộc bị cáo cấp dưỡng cho hai con của bị hại là Trần Văn Hữu N và Trần Văn Tiến Đ, mỗi tháng 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng cho đến khi đủ 18 tuổi.
4/ Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.800.000 (hai triệu tám trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất do bên được thi hành án và bên phải thi hành án thỏa thuận; nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Lâm Đồng |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự sơ thẩm (giết người)
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Danh Tròn phạm tội Giết người
