|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM GIANG TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày: 06-12-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Xuân Ngân; Ông Ka Phu Bột.
- Thư ký phiên tòa: Ông CLâu Thìn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn Đ, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1966 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình;
Nơi thường trú: Xóm I, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở hiện tại: Dãy trọ Nguyễn Nữ Quỳnh T, K, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; trình độ học vấn: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Văn N (chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1933; có vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1968 và có 03 con; tiền án: Ngày 24/11/2009 bị Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 20 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/8/2024 bị phòng C1 Công an tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Điều khiển xe trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở”, Phạm Văn Đ đã nộp phạt xong. Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981; trú tại: Thôn Đ, xã S, huyện N, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2023, Phạm Văn Đ làm nghề buôn bán hàng rong và thuê trọ ở quận S, thành phố Đà Nẵng, trong thời gian thuê trọ, Đ gặp người đàn ông tên H (khoảng 40 tuổi, quê ở Quảng Nam, không rõ nhân thân lai lịch). Qua trò chuyện, Đ cho biết bản thân chưa có Giấy phép lái xe hạng A1 thì H gợi ý “thi hộ” cho Đ mà không cần phải nộp hồ sơ, không cần phải học, thi để được cấp Giấy phép lái xe. Chỉ cần đưa cho H ảnh thẻ 3x4, bản photo Căn cước công dân và số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng) thì H sẽ làm cho Đ 01 Giấy phép lái xe hạng A1. Khoảng 10 ngày sau khi cung cấp giấy tờ, số tiền theo yêu cầu của H thì H đưa cho Đ 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...], số phôi: BB214528 mang tên Phạm Văn Đ.
Đến ngày 11/02/2024, Đ điều khiển xe môtô hiệu HONDA loại xe JC764 FUTURE màu xanh-đen, biển kiểm soát: 82E1-254.55 (xe này do Đ nhờ cháu rể là Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981, trú tại: thôn Đ, xã S, huyện N, tỉnh Kon Tum đứng tên mua giúp) từ Đà Nẵng đi Kon Tum, khi đi đến K+900 đường Q thuộc địa phận huyện N, tỉnh Quảng Nam thì bị tổ tuần tra kiểm soát của Phòng C1 Công an tỉnh Q yêu cầu dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn. Qua kiểm tra, xác định Đ điều khiển xe trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn. Quá trình lập biên bản, Phạm Văn Đ xuất trình Giấy phép lái xe nêu trên thì bị tổ tuần tra tạm giữ.
Tại bản Kết luận giám định số 237/KL-KTHS, ngày 24/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: “GIẤY PHÉP LÁI XE” bằng nhựa cứng (PET); số phôi: BB214528; số GPLX: 370220055931; họ tên: Phạm Văn Đ, ngày sinh: 12/9/1966, quốc tịch: Việt Nam, nơi cư trú: Xóm I, X. H, H. K, T. Ninh B; hạng: A1, có giá trị đến: không thời hạn; đề ngày cấp: 05/8/2022, nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh N là giả.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSNG ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện N, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự (viết tắt là BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Nam Giang thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01(một) "GIẤY PHÉP LÁI XE" bằng nhựa cứng và 01 đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình.
Lời nói sau cùng, bị cáo biết hành vi phạm tội của mình là vi phạm phát luật, nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, VKSND huyện Nam Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Khoảng 14 giờ 39 phút ngày 11/02/2024 tại Km 1322 +900 đường Q thuộc địa phận huyện N, tỉnh Quảng Nam, bị cáo Phạm Văn Đ đã thực hiện hành vi sử dụng Giấy phép lái xe giả số: [...] hạng A1; họ tên: Phạm Văn Đ, ngày sinh: 12/9/1966, quốc tịch: Việt Nam, nơi cư trú: Xóm I, X. H, H. K, T. N; đề ngày cấp: 05/8/2022, nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh N để xuất trình cho Tổ tuần tra kiểm soát Phòng C1 Công an tỉnh Q khi bị Tổ tuần tra lập biên bản vi phạm hành chính: Điều khiển xe mô tô 2 bánh có dung tích xi lanh từ 50 cm3 đến dưới 175 cm3 mang biển số 82E1-254.55 đã vi phạm hành vi: “Điều khiển xe trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở”. Lời khai bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Tại bản Kết luận giám định số 237/KL-KTHS ngày 24/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: “GIẤY PHÉP LÁI XE” bằng nhựa cứng (PET); số phôi: BB214528; số GPLX: 370220055931; họ tên: Phạm Văn Đ, ngày sinh: 12/9/1966, quốc tịch: Việt Nam, nơi cư trú: Xóm I, X. H, H. K, T. Ninh B; hạng: A1, có giá trị đến: không thời hạn; đề ngày cấp: 05/8/2022, nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh N là giả. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của VKSND huyện Nam Giang truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ đã xâm phạm đến trật tự Quản lý hành chính Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, đến các hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức. Bị cáo có đủ năng lực nhận thức để biết rõ hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của Cơ quan tổ chức Nhà nước là vi phạm pháp luật, hành vi của bị cáo còn tiếp tay tạo điều kiện và thúc đẩy cho các đối tượng xấu trong xã hội thực hiện các hành vi phạm tội khác ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của cộng đồng dân cư trong xã hội. Do đó, cần thiết phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo trở thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 24/11/2009, bị cáo bị Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 20 năm tù về tội "Hiếp dâm trẻ em". Ngày 09/02/2022 bị cáo chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm" theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân thường hay đau ốm nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.
[5] Về vật chứng: 01(một) "GIẤY PHÉP LÁI XE" bằng nhựa cứng là vật chứng của vụ án có giá trị chứng minh và 01 đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình được đưa vào hồ sơ vụ án và lưu trữ theo quy định.
[6] Những vấn đề liên quan đến vụ án:
- Đối với Nguyễn Văn T1, T1 chỉ mua xe và đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, biển kiểm soát 82E1-254.55 giúp Đ, T1 không biết việc Đ sử dụng Giấy phép lái xe hạng A1 giả để tham gia giao thông nên không có cơ sở để xử lý.
- Đối với người đàn ông tên H nhận làm Giấy phép lái xe giả cho Đ, quá trình điều tra Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của người này, khi nào xác định được sẽ tiến hành xác minh, xử lý sau.
- Đối với hành vi “Điều khiển xe trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 0,25 miligam/1lít khí thở”, Phòng C1 Công an tỉnh Q đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 2.500.000 đồng đối với Phạm Văn Đ, Phạm Văn Đ đã chấp hành xong việc nộp phạt.
[7] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội cũng như đề xuất về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. - Về vật chứng: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án gồm: 01 “GIẤY PHÉP LÁI XE” bằng nhựa cứng, Số/No: 370220055931, Họ tên: PHẠM VĂN Đ, ngày sinh: 12/09/1966, quốc tịch: VIỆT NAM, nơi cư trú: Xóm I, X. H, H. K, T. Ninh B, hạng: A1, có giá trị đến: không thời hạn, đề ngày cấp: 05/08/2022, nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh N, số phôi: BB214528 và 01 đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Huỳnh Quang |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM về hình sự về tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PHẠM VĂN ĐỊNH SỬ DỤNG TÀI LIỆU GIẢ
