|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HS-ST
Ngày: 20/6/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Lê Lân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Hữu Lộc.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Nguyên Quy – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Trịnh Thị T; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 01/01/1983 tại P, Bình Định; Nơi cư trú: A, C, P, Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: nội trợ; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông: Trịnh Đình D, SN: 1955 và bà: Phan Thị Đ, SN: 1954 (đã chết); Con: 01 người, sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 12/3/2024 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã C, huyện P, tỉnh Bình Định từ ngày 12/3/2024 cho đến nay.
(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Lê Thị Kim T1; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 10/5/1985 tại P, Bình Định; Nơi ĐKHKTT: An Quang T2, C, P, Bình Định; Nơi ở hiện tại: A, C, P, Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: nội trợ; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Lê Văn C, SN: 1953 và bà: Phạm Thị L, SN: 1954; Chồng: Nguyễn Xuân T3, SN: 1984 (đã li hôn), Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã C, huyện P, tỉnh Bình Định từ ngày 12/3/2024 cho đến nay.
(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Hồ Thị Kim T4; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 15/10/1975 tại P, Bình Định; Nơi cư trú: A, C, P, Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Hồ Thì, SN: 1951 và bà Huỳnh Thị C1, SN: 1951; Chồng: Lê Văn C2, SN: 1971; Con: 04 người, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 12/3/2024 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã C, huyện P, tỉnh Bình Định từ ngày 12/3/2024 cho đến nay.
(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Huỳnh Thị Thanh T5; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 22/3/1994 tại P, Bình Định; Nơi cư trú: A, C, P, Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: nội trợ; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Huỳnh Văn Đ1 (đã chết) và bà: Trần Thị T6, SN: 1964; Chồng: Dương Văn M, SN: 1987; Con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 12/3/2024 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã C, huyện P, tỉnh Bình Định từ ngày 12/3/2024 cho đến nay.
(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 06/3/2024, Huỳnh Thị Thanh T5, Hồ Thị Kim T4 và Lê Thị Kim T1 đến nhà Trịnh Thị T tại thôn A, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định chơi. Tại đây, T rủ 03 người là T5, T4, T1 cùng đánh bạc thắng thua bằng tiền, dưới hình thức: đánh bài tiến lên. Khi tham gia đánh bạc, các con bạc thống nhất cách chơi: tới nhất thắng 40.000 đồng, tới nhì thắng 20.000 đồng, thua nhất chung 40.000 đồng, thua nhì chung 20.000 đồng.
Trong quá trình đánh bạc, Trịnh Thị T sử dụng 4.910.000 đồng để đánh bạc, thua 400.000 đồng, còn bị tạm giữ 4.510.000 đồng; Huỳnh Thị Thanh T5 sử dụng 730.000 đồng để đánh bạc, thua 150.000 đồng, còn bị tạm giữ 580.000 đồng; Hồ Thị Kim T4 sử dụng 1.915.000 đồng để đánh bạc, thắng 350.000 đồng, bị tạm giữ 2.265.000 đồng; Lê Thị Kim T1 sử dụng 2.940.000 đồng để đánh bạc, thắng 200.000 đồng, bị tạm giữ 3.140.000 đồng.
Chiếu bạc đánh đến 14 giờ 25 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an huyện P kiểm tra, bắt quả tang Trịnh Thị T, Huỳnh Thị Thanh T5, Hồ Thị Kim T4 và Lê Thị Kim T1 đang đánh bạc. Thu giữ trên chiếu bạc, trong người các con bạc số tiền dùng để đánh bạc và dụng cụ đánh bạc. Cụ thể:
- Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 10.495.000 đồng. Trong đó, của T 4.510.000 đồng; của T5 580.000 đồng; của của T4 2.265.000 đồng; của Tuyến 3.140.000 đồng.
- Dụng cụ dùng để đánh bạc, gồm: 05 bộ bài tây 52 lá; 01 tấm chăn.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã thu giữ: số tiền 10.495.000 đồng tiền Việt Nam; 05 bộ bài Tây loại 52 lá; 01 cái chăn (Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng kèm theo, đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định bảo quản).
Tại bản Cáo trạng số: 22/CT-VKSPC, ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định đã truy tố các bị cáo Trịnh Thị T, Lê Thị Kim T1, Hồ Thị Kim T4 và Huỳnh Thị Thanh T5 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trịnh Thị T, Lê Thị Kim T1, Hồ Thị Kim T4 và Huỳnh Thị Thanh T5 theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS năm 2015 và không có thay đổi bổ sung gì thêm.
Về tội danh: Đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Trịnh Thị T, Lê Thị Kim T1, Hồ Thị Kim T4 và Huỳnh Thị Thanh T5 phạm tội “Đánh bạc”.
Về trách nhiệm hình sự:
Đề nghị HĐXX:
- +Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 BLHS năm 2015 đối với bị cáo Trịnh Thị T để xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, trừ thời gian tạm giữ 6 ngày, còn buộc phải chấp hành hình phạt chung, phạt bổ sung 12.000.000 đồng.
- +Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 BLHS năm 2015 đối với các bị cáo Hồ Thị Kim T4 và Huỳnh Thị Thanh T5 để xử phạt các bị cáo từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, trừ thời gian tạm giữ 6 ngày, còn buộc phải chấp hành hình phạt chung, phạt bổ sung mỗi bị cáo 10.000.000 đồng.
- +Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, n, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 BLHS năm 2015 đối với bị cáo Lê Thị Kim T1 để xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Các bị cáo đều là những người lao động có thu nhập không ổn định nên không khấu trừ thu nhập. Giao các bị cáo cho UBND xã C quản lý, giám sát.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu, sung công số tiền dùng để đánh bạc 10.495.000 đồng; tịch thu, tiêu hủy dụng cụ dùng để đánh bạc gồm 05 bộ bài Tây 52 lá và 1 tấm chăn.
Trong phần tự bào chữa, các bị cáo Trịnh Thị T, Lê Thị Kim T1, Hồ Thị Kim T4 và Huỳnh Thị Thanh T5 đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh gia đình giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Xét về mặt thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: ở các giai đoạn tố tụng này, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được đảm bảo, các nguyên tắc trong tố tụng hình sự được tôn trọng và thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật hình sự.
[2]. Xét nội dung của vụ án và hành vi của các bị cáo thực hiện, tính chất nguy hiểm của hành vi, HĐXX thấy rằng:
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi diễn biến của vụ án như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của các bị cáo trước Tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như các tài liệu chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở chứng cứ và yếu tố pháp lý kết luận:
Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 06/3/2024, Trịnh Thị T tiến hành rủ các bị cáo Lê Thị Kim T1, Hồ Thị Kim T4 và Huỳnh Thị Thanh T5 lập sòng cùng nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền trái phép dưới hình thức đánh bài tiến lên tại nhà của T ở thôn A, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Trong lúc các con bạc đang sát phạt nhau thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành kiểm tra, lập biên bản, bắt quả tang và thu giữ với tổng số tiền đánh bạc là 10.495.000 đồng (Mười triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng) vào lúc 14 giờ 25 phút cùng ngày.
Vụ án tuy có nhiều bị cáo tham gia nhưng chỉ mang tính đồng phạm giản đơn, không mang tính chuyên nghiệp, vì hám lợi nên các bị cáo đã cùng hưởng ứng tham gia đánh bạc với nhau, do đó chưa thể hiện là một vụ án có tổ chức chặt chẽ. Tuy nhiên, cũng cần phải xét xử các bị cáo với mức án nghiêm minh.
Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng và an toàn xã hội ở địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Do đó, HĐXX xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định truy tố các bị Trịnh Thị T, Lê Thị Kim T1, Hồ Thị Kim T4 và Huỳnh Thị Thanh T5 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
HĐXX kết luận: Các bị cáo Trịnh Thị T, Lê Thị Kim T1, Hồ Thị Kim T4 và Huỳnh Thị Thanh T5 phạm tội: “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, cần xét xử các bị cáo với mức án đúng với hành vi, tính chất mức độ phạm tội đã gây ra nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
[3]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng:
Các bị cáo Trịnh Thị T, Hồ Thị Kim T4, Huỳnh Thị Thanh T5 và Lê Thị Kim T1 phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này, không có phạm tội nào khác. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Lê Thị Kim T1 đang mang thai nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Qua xem xét mức độ tham gia của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như vai trò tham gia của các bị cáo, HĐXX nhận thấy các bị cáo chủ yếu ham vui, số tiền đánh bạc thắng thua không lớn, do đó HĐXX thấy không cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đảm bảo tính nghiêm minh.
Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, chủ yếu là nội trợ. Do đó, HĐXX xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung cũng như không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng phù hợp một phần với nhận định trên nên được HĐXX chấp nhận.
[4]. Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp khác:
[4.1]. Về trách nhiệm dân sự: Không.
[4.2]. Về xử lý vật chứng:
- - Dụng cụ dùng đánh bạc: 05 bộ bài Tây loại 52 lá và 01 cái chăn, HĐXX xét thấy vật chứng này trực tiếp liên quan đến vụ án do đó cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 10.495.000 đồng Việt Nam là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc do đó tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
(Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng kèm theo, đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định bảo quản).
[5]. Về án phí: Căn cứ theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Trịnh Thị T, Lê Thị Kim T1, Hồ Thị Kim T4 và Huỳnh Thị Thanh T5 phải chịu án phí HSST sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Trịnh Thị T, Hồ Thị Kim T4 và Huỳnh Thị Thanh T5;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, n, s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Thị Kim T1;
Căn cứ vào các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trịnh Thị T, Lê Thị Kim T1, Hồ Thị Kim T4 và Huỳnh Thị Thanh T5 phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Trịnh Thị T 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ được trừ thời hạn tạm giữ 06 ngày, cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ nên được trừ 18 ngày. Thời gian chấp hành án còn lại là 06 tháng 12 ngày kể từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện P nhận được quyết định thi hành án.
Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Giao bị cáo Trịnh Thị T cho UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Hồ Thị Kim T4 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ được trừ thời hạn tạm giữ 06 ngày, cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ nên được trừ 18 ngày. Thời gian chấp hành án còn lại là 06 tháng 12 ngày kể từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện P nhận được quyết định thi hành án.
Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Giao bị cáo Hồ Thị Kim T4 cho UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Thanh T5 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ được trừ thời hạn tạm giữ 06 ngày, cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ nên được trừ 18 ngày. Thời gian chấp hành án còn lại là 06 tháng 12 ngày kể từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện P nhận được quyết định thi hành án.
Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Giao bị cáo Huỳnh Thị Thanh T5 cho UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim T1 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành án kể từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện P nhận được quyết định thi hành án.
Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Giao bị cáo Lê Thị Kim T1 cho UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Trịnh Thị T 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ được trừ thời hạn tạm giữ 06 ngày, cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ nên được trừ 18 ngày. Thời gian chấp hành án còn lại là 06 tháng 12 ngày kể từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện P nhận được quyết định thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Về trách nhiệm dân sự: Không.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy: 05 bộ bài Tây loại 52 lá và 01 cái chăn;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: số tiền 10.495.000đồng (Mười triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng) tiền Việt Nam.
Có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 20/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát.
- Về án phí: Các bị cáo Trịnh Thị T, Lê Thị Kim T1, Hồ Thị Kim T4 và Huỳnh Thị Thanh T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỎI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Lê Lân |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đặng Hữu Lộc Nguyễn Thị Tuyết Vân |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Lân |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỊNH THỊ T VÀ ĐỒNG PHẠM - ĐÁNH BẠC
