|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 22/2024/HS-ST |
Ngày 17 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Đạt.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Phước; ông Nguyễn Khắc Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thế Hồng, Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 02/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 05/4/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn P, sinh ngày 20/10/1991 tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp F, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1964 và bà Lê Thị T, sinh năm 1961; có vợ là Huỳnh Thị Mỹ H, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và 01 người con, 12 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an H2; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 03/01/2021, tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế C, thuộc địa phận thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế C phối hợp với các lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện Nguyễn Văn P, sinh ngày 20/10/1991, trú tại ấp F, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, là hành khách từ trên xe ô tô khách biển kiểm soát 29F - 031.72 xuống làm thủ tục nhập cảnh tại Cửa khẩu Quốc tế C. Kiểm tra hành lý của P phát hiện 01 hộp bánh màu da cam, bên trong hộp bánh có chứa 01 gói ni lông màu trắng đựng 50 viên nén màu hồng. Nguyễn Văn P khai nhận số viên nén màu hồng trên là ma túy loại H1 phiến. Xét hành vi của Nguyễn Văn P là vi phạm pháp luật nên tổ công tác đã đưa P cùng tang vật về Trạm kiểm soát Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế C để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Quá trình đấu tranh, Nguyễn Văn P khai nhận: Vào khoảng giữa tháng 12/2023, Nguyễn Văn P đang làm việc tại Đặc khu K, thì được một người đàn ông quản lý tại công ty (P không biết rõ nhân thân, lai lịch của người này) đưa cho một gói ma túy (loại H1 phiến) sử dụng để tỉnh táo làm việc. Trong thời gian làm việc tại Lào, P đã lấy số ma túy trên để sử dụng nhiều lần (khoảng 20 viên). Ở Lào được khoảng 20 ngày, P bị bệnh ngoài da nên công ty cho về Việt Nam. Tối ngày 31/12/2023 P đến nghỉ trong khách sạn B và lấy 10 viên Hồng phiến sử dụng, số H1 phiến còn lại P bỏ vào trong gói ni lông màu trắng rồi bỏ vào túi quần P mặc trên người. Khoảng 10 giờ ngày 01/01/2024 P bắt xe khác từ B Kẹo/Lào đến bến xe Viêng C để đón xe về Việt Nam, trên đường xe có dừng lại một quán cơm bên đường để khách ăn cơm tối, tại đây P mua 01 hộp bánh cầm lên xe để ăn. Trên xe, P mở hộp bánh ra ăn sau đó lấy gói Hồng phiến từ túi quần bỏ vào trong hộp bánh. Khoảng 09 giờ ngày 03/01/2024, khi xe về đến Cửa khẩu Quốc tế C, thuộc địa phận huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, khi P dang làm thủ tục nhập cảnh thì lực lượng Bộ đội Biên phòng tại Cửa khẩu Quốc tế C yêu cầu kiểm tra hành lý, phát hiện bên trong hộp bánh có 01 gói ni lông màu trắng đựng 50 viên Hồng phiến của P đưa từ Lào về để sử dụng, sau đó lực lượng chức năng đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.
- Tại Bản kết luận giám định số 156/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H2, kết luận: 50 viên nén hình trụ màu hồng được gửi giam định là ma túy, là Methamphetamine, có khối lượng 4,7595gam.
- Vật chứng thu giữ:
- + 4,7595 gam Methamphetamine (đã lấy mẫu giám định 0,4763gam), còn lại 4,2832gam cùng toàn bộ vỏ bao gói được cho vào 01 bì thư dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và bị cáo Nguyễn Văn P;
- + 01 điện thoại di động Iphone Xs Max, màu đen, bên trong gắn thẻ sim số 0898249580;
- + 01 hộp bánh màu cam bên ngoài hộp bánh có chữ nước ngoài.
Toàn bộ số vật chứng đã được Cơ quan điều tra chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện H cất giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại cáo trạng số 22/CT-VKS-HS ngày 31/3/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Bị cáo đã thừa nhận về hành vi về hành tàng trữ ma túy của mình. Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát và bị cáo không kêu oan, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được xem xét công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào 09 giờ 30 phút ngày 03/01/2024, tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế C, thuộc địa phận thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Văn P đã bị Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế C phối hợp với các lực lượng chứng năng phát hiện và bắt giữ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Với trọng lượng ma túy bị cáo tàng trữ 4,7595gam là Methamphetamine thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống. Do đó cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội thì bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo có cha đẻ là Bộ đôi phục viên và ông ngoại là Liệt sỹ, bà ngoại là Mẹ Việt Nam Anh hùng, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Với hành vi phạm tội và các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng một số hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo Nguyễn Văn P không có nghề nghiệp ổn định, do đó cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo là phù hợp và có căn cứ.
[6] Về xử lý vật chứng: Số Methamphetamine là vật cấm lưu hành; còn toàn bộ vỏ bao gói và 01 hộp bánh màu cam là vật không còn giá trị sử dụng nên cân tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với chiếc điện thoai di động nhãn hiệu Iphone Xs Max thu giữ của bị cáo, nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại cho các bị cáo là phù hợp và có căn cứ.
[7] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về điều luật áp dụng; tội danh truy tố; mức hình phạt; xử lý vật chứng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về các nội dung khác: Đối với người đàn ông nước ngoài cho P ma túy, nhưng do P không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì thư màu trắng có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, bên trong có 01 gói ni lông màu trắng đựng các viên nén màu hồng là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 4,2832 gam cùng toàn bộ vỏ bao gói; 01 hộp bánh màu dam cam (đã bị mở) bên ngoài hộp bánh có in chữ nước ngoài;
- - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Iphone XS Max, màu đen, số máy MT712CH/A, số seri F2LXP07ZKPJ0, bên trong lắp sim điện thoại số 0898.249.xxx đã qua sử dụng.
(Tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao nhân vật chứng ngày 02/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Văn Đạt |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tàng trữ trái phép chất ma tuý
