Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày: 15/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Danh và ông Nguyễn Ngọc Uyên.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đáng – Kiểm sát viên Trung cấp.

Vào ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Đình C, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1956; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: 14 Đ, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp hiện tại: Cán bộ hưu trí (hưởng chính sách như thương binh); chức vụ tại thời điểm phạm tội: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P; Đảng viên Đ, đã bị thi hành kỷ luật Đảng bằng hình thức khai trừ; trình độ văn hóa (học vấn): 10/10; con ông Phạm C1, sinh năm 1929 (chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1929 (chết); có vợ Lê Thị H, sinh năm 1963 và 02 con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  2. Đỗ Duy V, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1956; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố C, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp hiện tại: Cán bộ hưu trí; chức vụ tại thời điểm phạm tội: Giám đốc Sở Tài chính tỉnh P; Đảng viên Đ, đã bị thi hành kỷ luật Đảng bằng hình thức khai trừ; trình độ văn hóa (học vấn): 10/10; con ông Đỗ Duy L, sinh năm 1930 (chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1932 (chết); có vợ Lê Bích T, sinh năm 1958 và 02 con, con lớn sinh năm 1979, con nhỏ sinh năm 1983; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V: Ông Nguyễn Hương Q – Luật sư, Công ty TNHH MTV P1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P; có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân tỉnh P; địa chỉ: G Đ, Phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện nguyên đơn dân sự: Ông Nguyễn Văn H1, sinh ngày 15/7/1973. Nơi cư trú: Thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; chức vụ: Phó Giám đốc Sở Tài chính tỉnh P làm đại diện, do được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P ủy quyền. Văn bản ủy quyền số: 6613/UBND-NC ngày 30/11/2023; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Văn T1, sinh ngày 16/10/1959. Nơi cư trú: D T, phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Nguyễn Duy D1, sinh ngày 02/12/1960. Nơi cư trú: C T, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  3. Nguyễn Vũ T2, sinh ngày 31/10/1983. Nơi cư trú: F L, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  4. Nguyễn L1, sinh ngày 10/6/1967. Nơi cư trú: 1 Đ, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  5. Nguyễn Thái B1, sinh ngày 24/4/1957. Nơi cư trú: 339 N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  6. Huỳnh Xuân S, sinh ngày 04/7/1963.Nơi cư trú: A N, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  7. Huỳnh Văn K, sinh ngày 25/02/1978. Nơi cư trú: Khu phố N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  8. Lê Tiến D2, sinh ngày 07/12/1974. Nơi cư trú: 64 N, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  9. Hồ Văn T3, sinh ngày 12/02/1959. Nơi cư trú: C T, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  10. Nguyễn Ngọc Â, sinh ngày 22/02/1958. Nơi cư trú: 457 H, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  11. Lê Thị Minh T4, sinh ngày 07/11/1976. Nơi cư trú: 73/11 N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  12. Lê Văn L2, sinh ngày 21/02/1963. Nơi cư trú: 42 L, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  13. Lê Kim A, sinh ngày 10/10/1953. Nơi cư trú: H N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  14. Trần Thị N, sinh ngày 20/02/1968. Nơi cư trú: 1 L, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  15. Ngô Bá L3, sinh ngày 02/9/1959. Nơi cư trú: B N, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  16. Nguyễn Khoa K1, sinh ngày 01/01/1978. Nơi cư trú: 72 N, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  17. Nguyễn Ngọc T5, sinh ngày 20/10/1968. Nơi cư trú: KP Đ, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  18. Phạm Ngọc T6, sinh ngày 14/12/1966. Nơi cư trú: 0 T, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  19. Đỗ Quang H2, sinh ngày 14/02/1956. Nơi cư trú: A H, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  20. Huỳnh Tấn N1, sinh ngày 26/10/1957. Nơi cư trú: 327 H, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  21. Công ty Cổ phần P2harco; địa chỉ: A - A N, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần P2harco: Bà Lê Thị Hoài G, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Phòng G, The Manor O, I N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; do được ông Phan Thế V1 – Tổng Giám đốc ủy quyền. Văn bản ủy quyền ngày 09/4/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) tỉnh Phú Yên là cơ quan có trách nhiệm quản lý tài sản nhà nước tại địa phương theo quy định tại Điều 2 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003; Điều 7 Luật đất đai năm 2003. Trong đó Sở Tài chính tỉnh P là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh P, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh P quản lý tài sản Nhà nước theo quy định tại Điều 1, Khoản 5 Điều 2 Thông tư liên tịch số 90/2009/TTLT-BTC-BNV ngày 06/5/2009 của Bộ T8 – Bộ N2 và Điều 1, Khoản 5 Điều 2 Quyết định số 1594/QĐ-UBND ngày 26/8/2009 của UBND tỉnh P. Tháng 02/2010, Phạm Đình C được bầu giữ chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh P; tháng 7/2004, Đỗ Duy V được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Sở Tài chính tỉnh P.

Trước đây Công ty cổ phần P2 (viết tắt Công ty P2) là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ trực thuộc UBND tỉnh P; ngày 06/5/2013, Nhà nước không còn sở hữu vốn tại Công ty. Tháng 5/2005, Công ty P2 có văn bản gửi đến các cơ quan chức năng tỉnh Phú Yên xin thực hiện đầu tư xây dựng dự án Trung tâm kinh doanh dược, mỹ phẩm và dịch vụ y tế P3. Ngày 30/8/2005, UBND tỉnh P có thông báo số 831 đồng ý thỏa thuận địa điểm cho Công ty P2 xây dựng dự án trên tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.183m² thuộc ô phố A, đường H, phường F, thành phố T có nguồn gốc do UBND phường F quản lý. Ngày 11/4/2007, Công ty P2 có đơn xin giao thửa đất trên để xây dựng dự án. Ngày 24/4/2007, ông Nguyễn Kim P (đã chết) – Phó Giám đốc Sở T tỉnh có tờ trình số 240 đề nghị UBND tỉnh P giao thửa đất trên cho Công ty P2 theo hình thức thông qua đấu giá quyền sử dụng đất. Ngày 15/5/2007, Công ty P2 có tờ trình số 255 gửi UBND tỉnh P và Sở T tỉnh xem xét, phê duyệt mức thu tiền sử dụng đất để xin giao đất. Ngày 16/5/2007, Đỗ Duy V ký tờ trình số 841 xác định tiền sử dụng đất phải nộp ngân sách, đất sản xuất kinh doanh, thời hạn giao đất 70 năm không qua đấu giá quyền sử dụng đất với số tiền 3.571.680.000 đồng, đồng thời đề nghị UBND tỉnh P giao cho Sở T xác định giá trị quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất cho Công ty P2 thực hiện dự án và thu về ngân sách tỉnh. Ngày 25/5/2007, ông Nguyễn Bá L4 – Phó Chủ tịch UBND tỉnh (đã chết) ký quyết định số 940 phê duyệt phương án giao đất có thu tiền sử dụng đất không qua đấu giá thửa đất trên cho Công ty P2 để thực hiện dự án với các nội dung như đề xuất của Sở T. Ngày 06/8/2007, Công ty P2 đã nộp đủ tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước. Ngày 18/6/2007, ông Nguyễn Kim P ký tờ trình số 348 đề nghị UBND tỉnh P thu hồi, chuyển mục đích và giao đất có thu tiền sử dụng đất cho Công ty P2. Ngày 18/9/2007, ông Lê Kim A – Phó Chủ tịch UBND tỉnh ký Quyết định số 1714 thu hồi thửa đất trên của UBND phường 6, chuyển mục đích sử dụng đất từ đất bằng chưa sử dụng sang đất cơ sở sản xuất kinh doanh và giao đất có thu tiền sử dụng đất cho Công ty P2. Tại Khoản 3 Điều 2 Quyết định này nêu: Trong thời hạn 12 tháng (kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực), hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24 tháng (so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư), nếu chưa đưa đất vào sử dụng phải xin phép gia hạn; nếu không, Quyết định này đương nhiên không còn hiệu lực. Ngày 03/01/2008, ông Nguyễn Kim P ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho Công ty P2. Ngày 18/02/2008, Công ty P2 nộp lệ phí trước bạ với số tiền 66.248.000 đồng.

Sau khi được giao đất, Công ty P2 không đầu tư xây dựng dự án, ngày 30/6/2010 Phạm Đình C ký công văn số 1371 chỉ đạo Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh làm việc với nhà đầu tư, yêu cầu cam kết tiến độ đầu tư, trong thời hạn 03 tháng phải triển khai thi công các hạng mục chính, nếu không thực hiện thì đề xuất UBND tỉnh thu hồi chủ trương đầu tư. Tháng 7/2010 Sở Kế hoạch & đầu tư tỉnh phối hợp với các ngành kiểm tra dự án của Công ty P2. Ngày 12/7/2010, Sở K2 có báo cáo số 210 gửi UBND tỉnh báo cáo dự án của Công ty P2 mới xây tường rào, chưa khởi công công trình chính trong một thời gian dài, kiến nghị UBND tỉnh kiên quyết không gia hạn giấy phép xây dựng. Ngày 13/7/2010, Ban cán sự Đảng UBND tỉnh P có Công văn số 224 báo cáo cho Thường trực Tỉnh ủy về tình hình thực hiện dự án của Công ty P2. Ngày 14/7/2010, Văn phòng Tỉnh ủy có Thông báo số 595 thông báo kết luận của Thường trực Tỉnh ủy, trong đó có nêu: Đối với dự án đã nộp tiền sử dụng đất thì phải triển khai thực hiện đầu tư sớm; đến tháng 12/2010, nếu chưa thi công công trình chính thì sẽ thu hồi dự án (trả lại tiền sử dụng đất). Ngày 19/7/2010, Phạm Đình C ký Thông báo số 424, với nội dung: Đối với các dự án đã nộp tiền sử dụng đất thì phải triển khai thực hiện đầu tư sớm; đến tháng 12/2010, nếu chưa thi công công trình chính cũng sẽ thu hồi dự án (trả lại tiền sử dụng đất). Ngày 15/4/2011, Phạm Đình C tiếp tục ký Công văn số 859 yêu cầu dự án Trung tâm kinh doanh dược, mỹ phẩm và dịch vụ y tế hoàn thành các thủ tục liên quan đến xây dựng, khởi công xây dựng trong tháng 5/2011, nhưng sau đó Công ty vẫn không triển khai xây dựng dự án.

Ngày 05/9/2012, UBND tỉnh có Công văn số 2617 chỉ đạo Sở K2 chủ trì phối hợp với các ngành có liên quan rà soát các dự án dọc tuyến đường H để đôn đốc khẩn trương triển khai thực hiện. Tháng 10/2012, Sở K2 báo cáo tình hình triển khai các dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách Nhà nước dọc tuyến đường H và gửi đến các Sở trong đó có Sở T để lấy ý kiến góp ý. Trong dự thảo có nêu đối với dự án Trung tâm K3 của Công ty P2 không tiến hành xây dựng các hạng mục công trình chính trong một thời gian dài; nhà đầu tư đề xuất điều chỉnh quy mô từ năm 2011 nhưng đến nay vẫn chưa tiến hành xây dựng công trình và kiến nghị chấm dứt hiệu lực dự án, chủ đầu tư thanh lý dự án, thu hồi chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoàn trả tiền sử dụng đất. Ngày 17/10/2012, Đỗ Duy V ký công văn số 2161 thống nhất nội dung kiến nghị như dự thảo gửi Sở Kế hoạch & đầu tư. Ngày 30/10/2012 Sở K2 có Báo cáo số 344 kiến nghị UBND tỉnh chấm dứt hiệu lực dự án đối với dự án Trung tâm kinh doanh dược phẩm và dịch vụ y tế của Công ty P2.

Ngày 17/11/2012, Công ty P2 có tờ trình số 647 gửi UBND tỉnh xin chuyển nhượng dự án trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần N3 – Chi nhánh tỉnh P (viết tắt Ngân hàng N3). Ngày 28/11/2012 Phạm Đình C ký Công văn số 3616 giao Sở T tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch & đầu tư, Sở T tỉnh xem xét các nội dung theo đề nghị của Công ty P2, tổng hợp và có đề xuất cụ thể trình UBND tỉnh xem xét quyết định. Ngày 30/11/2012 Đỗ Duy V chủ trì cuộc họp xem xét việc xin phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Công ty P2, tham dự cuộc họp có Đỗ Duy V – Chủ trì; bà Lê Thị Minh T4 – Phó Trưởng phòng Quản lý công sản thuộc Sở T làm Thư ký; ông Nguyễn Thái B1 – Giám đốc Sở Xây dựng; ông Lê Văn T1 – Phó Giám đốc Sở Kế hoạch & đâu tư; ông Nguyễn L1 – Trưởng phòng Kinh tế – Xã hội thuộc Sở Kế hoạch & đầu tư; ông Nguyễn Duy D1 – Phó Giám đốc Sở T; ông Nguyễn Vũ T2 – Phó Chi cục trưởng C2 thuộc Sở T; ông Nguyễn Ngọc T5 – Phó Giám đốc Công ty P2. Tại cuộc họp, Đỗ Duy V thống nhất cho phép Công ty P2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Ngân hàng N3. Ngày 30/11/2012, Đỗ Duy V ký công văn số 2645 gửi UBND tỉnh P với nội dung các ngành, thống nhất đề nghị UBND tỉnh cho phép Công ty chuyển nhượng quyền sử dụng đất sản xuất kinh doanh và giá trị tài sản trên đất Trung tâm kinh doanh dược, mỹ phẩm và dịch vụ y tế cho Ngân hàng N3 để xây dựng trụ sở làm việc. Ngày 07/01/2013, Phạm Đình C ký thông báo số 13 cho phép Công ty P2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giá trị tài sản trên đất cho Ngân hàng N3. Ngày 02/7/2013, Công ty P2 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho Ngân hàng N3 với số tiền 16.000.000.000 đồng.

Kết luận giám định ngày 30/9/2021 của C2 thuộc Sở Tài nguyên & môi trường tỉnh P kết luận: Dự án Trung tâm kinh doanh dược, mỹ phẩm và dịch vụ y tế P3 của Công ty P2 được UBND tỉnh giao thửa đất có thu tiền sử dụng đất tại Quyết định số 1714/QĐ-UBND ngày 18/9/2007 và bàn giao đất trên thực địa ngày 19/9/2007, đến thời điểm tháng 01/2013 Công ty không triển khai thực hiện dự án thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định tại khoản 12 Điều 38 Luật Đất đai 2003.

Kết luận định giá tài sản số 46 ngày 14/8/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tỉnh Phú Yên kết luận: Giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên tại thời điểm chuyển nhượng tháng 7/2013 có giá trị 16.076.699.583 đồng. Sau khi trừ các khoản tiền nộp ngân sách Nhà nước gồm: Phần giá trị còn lại của tiền sử dụng đất trong trường hợp Nhà nước thu hồi thửa đất trên tại thời điểm tháng 7/2013 là 2.753.716.913 đồng; phần giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư trên đất (hạng mục tường rào) tại thời điểm tháng 7/2013 là 184.439.354 đồng; T7 thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp cho ngân sách Nhà nước khi chuyển nhượng là 2.912.819.341 đồng; Tiền lệ phí chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nộp cho ngân sách Nhà nước là 8.010.636 đồng; Tiền lệ phí trước bạ đất đã nộp cho ngân sách Nhà nước là 45.546.000 đồng thì xác định số tiền Nhà nước bị thất thoát là 10.172.167.339 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSPY-P1 ngày 08/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V về tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” theo Khoản 3 Điều 219 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V vẫn khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tô là đúng.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V phạm tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”.

+ Về Hình phạt: Áp dụng Khoản 3, Khoản 4 Điều 219; Điều 41; Điểm b, s, v, x Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự; phạt: Các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V mỗi bị cáo 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách của mỗi bị cáo là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cấm các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V đảm nhiệm chức vụ liên quan đến công tác quản lý, sử dụng tài sản trong Cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức kinh tế thời hạn từ 02 (Hai) đến 03 (Ba) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

+ Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 587, 589 Bộ luật Dân sự;

Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Cổ phần P2 nộp khắc phục số tiền 8.738.458.023₫ (Tám tỷ, bảy trăm ba mươi tám triệu, bốn trăm năm mươi tám nghìn, không trăm hai mươi ba đồng) cho Nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân tỉnh P, đã được hạch toán thu ngân sách Nhà nước năm 2021.

Buộc các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V; mỗi bị cáo phải bồi thường cho Nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân tỉnh P số tiền 716.854.658đ (Bảy trăm mười sáu triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng). Các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V đã nộp đủ.

- Luật sư Nguyễn Hương Q bào chữa cho các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V nhất trí với ý kiến của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.

Quá trình trình tranh luận, không phát sinh vấn đề gì cần phải đối đáp. Các bị cáo nói lời sau cùng, xin pháp luật khoan hồng cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không bị khiếu nại, việc điều tra, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, nên các chứng cứ thu thập được đều đảm bảo giá trị chứng minh và hợp pháp.

[1.2] Mặc dù tại phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng họ đều đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng tại Cơ quan điều tra, xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và không gây trở ngại cho việc xét xử; do đó, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, các bị cáo; căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện tất cả chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy rằng: Lời khai nhận tội của các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V tại cơ quan điều tra, cơ quan truy tố và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của đại diện nguyên đơn dân sự; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các bản kết luận giám định, định giá tài sản và các tài liệu là chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 11/2012 đến tháng 01/2013, bị cáo Phạm Đình C – Chủ tịch UBND tỉnh P, bị cáo Đỗ Duy V – Giám đốc Sở Tài chính tỉnh P biết thửa đất số 76, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.183m² thuộc ô phố A, đường H, phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên, được UBND tỉnh P giao đất cho Công ty P2 để thực hiện dự án Trung tâm kinh doanh dược, mỹ phẩm và dịch vụ y tế P3 nhưng Công ty P2 không triển khai thực hiện dự án, thuộc trường hợp phải thu hồi đất nhưng các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V vẫn làm các thủ tục cho Công ty P2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất này cho Ngân hàng N3 – Chi nhánh P không đúng quy định của pháp luật, gây thất thoát tài sản Nhà nước số tiền 10.172.167.339 đồng. Do đó, bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSPY-P1 ngày 08/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V về tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” theo Khoản 3 Điều 219 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi của các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V đã xâm phạm đến chính sách quản lý đất đai và hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước về quản lý, sử dụng tài sản công, nên cần xử phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra. Tuy nhiên, các bị cáo đều có nhân thân tốt; qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mặt khác vụ án xảy ra đã lâu, trước khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, cả 02 bị cáo đã tích cực tác động Công ty P4 và trực tiếp khắc phục toàn bộ số tiền thất thoát cho Nhà nước; khi còn công tác cả hai bị cáo đều có nhiều thành tích xuất sắc, được nhiều cấp, nhiều ngành tặng thưởng Huân chương, Kỷ niệm chương, Bằng khen; bị cáo Đỗ Duy V có cha là liệt sỹ, có mẹ là người có công với cách mạng, có bà nội là Mẹ Việt Nam anh hùng; bị cáo Phạm Đình C là người có công với cách mạng, bản thân bị cáo đã từng bị địch bắt tù đày, được hưởng chính sách như thương binh, có cha, mẹ là người có công với cách mạng. Các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm b, s, v, x Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đủ điều kiện áp dụng Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, nhưng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn và mức hình phạt ngang bằng nhau. Bên cạnh đó, các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V hiện nay đều đã lớn tuổi có nhiều bệnh tật cần có thời gian đi lại để chữa trị; nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng tại Điều 65 Bộ luật Hình sự là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Nếu để các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V đảm nhiệm các chức vụ liên quan đến công tác quản lý, sử dụng tài sản trong Cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức kinh tế thì sẽ gây nguy hại cho xã hội, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên cấm các bị cáo này đảm nhiệm chức vụ theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Thất thoát trong vụ án được xác định là số tiền 10.172.167.339 đồng, đại diện Nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân tỉnh P yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thường là có căn cứ, phù hợp với Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 587, 589 Bộ luật Dân sự. Đến nay, Công ty Cổ phần P2 đã tự nguyện nộp khắc phục số tiền 8.738.458.023 đồng; bị cáo Phạm Đình C nộp khắc phục số tiền 716.854.658 đồng; bị cáo Đỗ Duy V nộp khắc phục số tiền 716.854.658 đồng. Tổng cộng: 10.172.167.339 đồng.

Đối với số tiền 8.738.458.023 đồng của Công ty Cổ phần P2 nộp khắc phục vào tài khoản của Sở Tài chính tỉnh P đã được hạch toán thu ngân sách Nhà nước năm 2021.

Đối với số tiền 1.433.709.316 đồng của các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V (bị cáo Phạm Đình C 716.854.658 đồng + bị cáo Đỗ Duy V 716.854.658 đồng), đã được nộp vào tài khoản số [...] của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh P. Nên tuyên trả cho Nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân tỉnh P nhận số tiền 1.433.709.316 đồng này.

[6] Về án phí: Các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V bị kết án phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Các ông Nguyễn Thái B1 – Giám đốc Sở Xây dựng, Nguyễn Duy D1 – Phó Giám đốc Sở T, Nguyễn Vũ T2 – Phó Chi cục trưởng C2 thuộc Sở T, Lê Văn T1 – Phó Giám đốc Sở K2, Nguyễn L1 – Trưởng phòng Kinh tế – Xã hội thuộc Sở Kế hoạch & Đầu tư và bà Lê Thị Minh T4 – Phó Trưởng phòng Quản lý Công sản thuộc Sở T tỉnh tham gia cuộc họp ngày 30/11/2012 nhưng tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án không đủ căn cứ chứng minh những người này đồng phạm với Đỗ Duy V.

- [8] Ông Nguyễn Ngọc Ầ – Nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P có trách nhiệm tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P về giá chuyển nhượng thửa đất để đóng thuế thu nhập theo quy định, nhưng không được giao phụ trách theo dõi các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh nên hành vi không cấu thành tội phạm.

[9] Hành vi giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất cho Công ty P2: Vào thời điểm tháng 6/2005 chỉ có 01 hồ sơ của Công ty P2 xin phép lập thủ tục đầu tư dự án tại thửa đất trên và phù hợp với quy hoạch nên căn cứ khoản 5 Điều 2 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ thì việc giao đất không thông qua đấu giá là có căn cứ nên không cấu thành tội phạm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V phạm tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”.

  1. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 3, Khoản 4 Điều 219; Điều 41; Điểm b, s, v, x Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự; phạt:
    1. Bị cáo Phạm Đình C 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. Bị cáo Đỗ Duy V 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Đình C cho Ủy ban nhân dân phường G1, thành phố T, tỉnh Phú Yên; giao bị cáo Đỗ Duy V cho Ủy ban nhân dân phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên để giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời hạn thử thách, trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Gia đình các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

  1. 1.3. Cấm các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V đảm nhiệm chức vụ liên quan đến công tác quản lý, sử dụng tài sản trong Cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức kinh tế thời hạn 03 (Ba) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  1. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 587, 589 Bộ luật Dân sự;
    1. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Cổ phần P2 nộp khắc phục số tiền 8.738.458.023₫ (Tám tỷ, bảy trăm ba mươi tám triệu, bốn trăm năm mươi tám nghìn, không trăm hai mươi ba đồng) cho Nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân tỉnh P.
    2. Số tiền 8.738.458.023đ (Tám tỷ, bảy trăm ba mươi tám triệu, bốn trăm năm mươi tám nghìn, không trăm hai mươi ba đồng) của Công ty Cổ phần P2 nộp khắc phục vào tài khoản của Sở Tài chính tỉnh P đã được hạch toán thu ngân sách Nhà nước năm 2021.

    3. Buộc các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V; mỗi bị cáo phải bồi thường cho Nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân tỉnh P số tiền 716.854.658₫ (Bảy trăm mười sáu triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng). Các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V đã nộp đủ.
    4. Tuyên trả cho Nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân tỉnh P số tiền 716.854.658₫ (Bảy trăm mười sáu triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng) của bị cáo Đỗ Duy V nộp (do bà Lê Bích T nộp thay cho bị cáo Đỗ Duy V) vào ngày 21/8/2023, vào tài khoản số [...] của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh P (BL 58).

      Tuyên trả cho Nguyên đơn dân sự – Ủy ban nhân dân tỉnh P số tiền 716.854.658₫ (Bảy trăm mười sáu triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng) của bị cáo Phạm Đình C nộp (do bà Lê Thị H nộp thay cho bị cáo Phạm Đình C) vào ngày 21/8/2023, vào tài khoản số [...] của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh P (BL59).

  2. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Các bị cáo Phạm Đình C, Đỗ Duy V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Quyền kháng cáo: Các bị cáo; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đại diện nguyên đơn dân sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - UBND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - CQ CSĐT CA. tỉnh Phú Yên;
  • - Phòng HSNV Công tỉnh Phú Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Yên;
  • - CQTT, NTGTT;
  • - P. KTNV THAHS;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Nguyên Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN - HSST - Phạm Đình C và, Đỗ Duy V - CT TÙNG
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger