Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày 15 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Thuy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đúng và ông Đào Tiến Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Trần Thị H, sinh năm 1992 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Trần Thị H1; có chồng là Trần Khắc C và 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 21/11/2023 đến ngày 29/11/2023, hiện nay đang tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Trần Văn H2, sinh năm 1990 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn I, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H3 và bà Đặng Thị T1; có vợ là Trương Thị Lan A và 02 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 21/11/2023 đến ngày 29/11/2023, hiện nay đang tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. Trần Bá T2, sinh năm 1973 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn I, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Bá T3 và bà Trần Thị K (đều đã chết); có vợ là Trần Thị N và 02 con (con

lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/02/2013, TAND tỉnh Hà Nam xử phạt 15 tháng tù về tội “Đánh bạc” (đã chấp hành xong bản án, thuộc trường hợp đương nhiên được xoá án tích); bị tạm giữ từ ngày 21/11/2023 đến ngày 29/11/2023, hiện nay đang tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 13/8/2023, Trần Văn H2 sử dụng điện thoại di động gửi tin nhắn hình ảnh từ tài khoản Telegram đăng ký bằng số điện thoại 0965.068.xxx của H2 đến tài khoản Telegram được đăng ký số điện thoại 0983.400.xxx của H đề nghị H bán cho các số đề 78, 19, 01 mỗi con 25.000 đồng; số đề 17 là 150.000 đồng; số đề 71 là 75.000 đồng; số đề 86 là 15.000 đồng; số đề 89 là 10.000 đồng, số đề 16 là 25.000 đồng; số đề 20 là 40.000 đồng; các số đề 53, 07, 70 mỗi con 10.000 đồng; số đề 45 là 55.000 đồng, số đề 54 là 225.000 đồng; số đề 12 là 100.000 đồng; các số đề 25, 05, 85, 65 mỗi con 30.000 đồng; các số đề 92, 98 mỗi con 15.000 đồng; số đề 96 là 20.000 đồng, số đề 94 là 15.000 đồng; số đề 95 là 50.000 đồng; số đề 91, 93 mỗi con 20.000 đồng; số đề 59 là 200.000 đồng; các số đề 52, 58, 56 mỗi con 100.000 đồng; số đề 50 là 100.000 đồng; số đề 55 là 150.000 đồng; số đề 75 là 30.000 đồng; đầu 5 gồm các số đề từ 50 đến 59 mỗi con 10.000 đồng; đầu 2 gồm các số đề từ 20 đến 29 mỗi con 20.000 đồng; đầu 1 gồm các số đề từ 10 đến 19 mỗi con 10.000 đồng. Các số lô 25, 26 mỗi con 10 điểm; số lô 63 là 20 điểm; số lô 02 là 07 điểm; các số lô 23, 32, 46, 74, 75 mỗi con 40 điểm. Tổng số tiền H2 đăng ký mua các số đề, số lô với H là 7.639.600 đồng.

Theo quy ước thì Trần Văn H2 phải trả cho Trần Thị H số tiền mua các con số đề theo tỷ lệ 83%/tổng số tiền đăng ký mua và mỗi điểm lô được tính tương ứng với 21.800 đồng. Tổng số tiền mua số lô, số đề H2 phải trả cho H là 7.256.250 đồng (gồm tiền mua số đề 2.255.000 x 83% = 1.871.650 đồng và tiền mua các số lô là 5.384.600 đồng). Căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc trong ngày, nếu có số đề đã mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì H phải trả cho H2 số tiền gấp 80 lần, nếu có số lô đã mua trùng với hai số cuối của các giải xổ số thì H phải trả cho H2 80.000 đồng/điểm.

Chiều tối ngày 13/8/2023 sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng, Trần Văn H2 đã gặp Trần Thị H để thanh toán tiền chơi số lô, số đề. Theo kết quả sổ số kiến thiết miền B ngày 13/8/2023 có giải đặc biệt là số 84528 nên H2 trúng số đề 28 với 20.000 đồng tương ứng số tiền là 20.000 đồng x 80 = 1.600.000 đồng; giải nhì có số 96875, giải ba có số 48426, giải tư có số 3346 - 9946 - 2325, giải năm có số 4123 và giải sáu có số 975 nên H2 trúng số lô 23 với 40 điểm, số lô 25 với 10 điểm, số lô 26 với 10 điểm, số lô 46 với 40 điểm x 2 = 80 điểm, số lô 75 với 40 điểm x 2 = 80 điểm tương ứng với số tiền là 220 điểm x 80.000 đồng/điểm = 17.600.000 đồng. Tổng số tiền H2 trúng các số lô, đề là 19.200.000 đồng. Sau khi đối trừ với số tiền mua các số lô, đề H2 phải trả cho H là 7.256.250 đồng, H đã trả cho H2 bằng tiền mặt số tiền 11.943.750 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 10/10/2023, Trần Bá T2 sử dụng điện thoại di động nhắn tin qua ứng dụng SMS đăng ký bằng số điện thoại 0347.020.xxx của T2 đến điện thoại được đăng ký số điện thoại 0983.400.xxx của H, đề nghị H bán cho các số lô 07 là 30 điểm; số lô 17 là 35 điểm; số lô 37 là 10 điểm; số lô 70 là 25 điểm; số lô 27 là 80 điểm; số lô 72 là 35 điểm; số lô 99 là 120 điểm; số lô 77 là 30 điểm; số lô 65 là 5 điểm; các số lô 29, 92 mỗi con 5 điểm; số lô 62 là 25 điểm; số lô 16 là 10 điểm; số lô 61 là 5 điểm; các số lô xiên 3 gồm 48, 84, 33 là 20.000 đồng; 16, 61, 33 là 20.000 đồng; 65, 48, 86 là 20.000 đồng; Các số đề đầu đít 0 gồm các số từ 00, 10, 20, 30 đến 90 và từ 00, 01, 02 đến 09 mỗi con 10.000 đồng; số đề 85 là 50.000 đồng; các số đề 84, 86, 27, 72, 14, 41, 70 mỗi con 20.000 đồng; cặp số 03 gồm các số đề 03, 08, 30, 35, 53, 58, 80, 85 mỗi con 20.000 đồng; cặp số 04 gồm các con số đề 04, 09, 40, 45, 54, 59, 90, 95 mỗi con 30.000 đồng; số đề 52 là 20.000 đồng; cặp số 11 gồm các số đề 11, 16, 61, 66 mỗi con 50.000 đồng; các số đầu đít 3 gồm các số đề từ 30 dến 39 và từ 03, 13, 23 đến 93 mỗi con 10.000 đồng; các số ba càng 516, 561 mỗi con 60.000 đồng. Tổng số tiền T2 đăng ký mua các số đề, số lô, ba càng, lô xiên với H là 10.546.000 đồng.

Theo quy ước thì Trần Bá T2 phải trả cho Trần Thị H số tiền mua các con số đề, số ba càng, số lô xiên theo tỷ lệ 83%/tổng số tiền đăng ký mua và mỗi điểm lô được tính tương ứng với 21.800 đồng; tổng số tiền mua số lô, số đề, số ba càng, số lô xiên T2 phải trả cho H là 10.309.700 đồng (gồm tiền mua số đề, số ba càng, số lô xiên là 1.390.000 x 83% = 1.153.700 đồng và tiền mua các số lô là 9.156.000 đồng). Căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc trong ngày, nếu có số đề đã mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì H phải trả cho T2 số tiền gấp 80 lần, nếu có số ba càng đã mua trùng với ba số cuối của giải đặc biệt thì H phải trả cho T2 gấp 400 lần, nếu có số lô xiên đã mua trùng với hai số cuối của các giải xổ số thì H phải trả cho T2 gấp 40 lần, nếu có số lô đã mua trùng với hai số cuối của các giải xổ số thì H phải trả cho T2 80.000 đồng/điểm.

Chiều tối ngày 10/10/2023 sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng, Trần Bá T2 đã gặp Trần Thị H để thanh toán tiền chơi số lô, số đề, số lô xiên, số ba càng giữa hai bên. Theo kết quả sổ số kiến thiết miền Bắc ngày 10/10/2023 giải ba có số 76861, giải tư có số 9277, giải bảy có số 92 - 27 nên T2 trúng số lô 61 với 5 điểm, số lô 77 với 30 điểm, số lô 92 với 5 điểm, số lô 27 với 80 điểm tương ứng với số tiền là 120 điểm x 80.000 đồng/1 điểm = 9.600.000 đồng. Tổng số tiền T2 trúng các số lô là 9.600.000 đồng. Sau khi đối trừ với số tiền mua các số lô, đề T2 phải trả cho H là 10.309.700 đồng thì T2 phải trả tiếp cho H 709.700 đồng, T2 đã trả cho H số tiền này bằng tiền mặt.

Ngày 17/11/2023, Phòng CSĐTTP về ma túy - Công an tỉnh H kiểm tra, phát hiện tại phòng Vip 2 của quán K1 thuộc thôn A, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam do Trần Khắc C, sinh năm 1990 (là chồng của Trần Thị H) làm chủ đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành bắt giữ các đối tượng liên quan, đồng thời đưa Trần Thị H về Cơ quan điều tra để làm việc. Trần Thị H tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu trắng.

Tiến hành khai thác dữ liệu trong điện thoại xác định: Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu trắng của Trần Thị Hà 1 sim Viettel số thuê bao 0983.400.xxx. Tại mục Potos trong điện thoại: Có ảnh chụp nội dung số lô, số đề “đề 78(25), 01(25), 01(25), 17(50), 71(25), 86(10), 89(10), 16(5), 86(5), 20(40), 53(10), 07(10), 70(10), 45(25), 54(25), 16(20), 12(100), 17(100), 71(50), 25(30), 05(30), 85(30), 65(30 ), 92(15), 98(15), 96(20), 94(15), 91(20), 95(20), 93(20), 59(200), 52(100), 58(100), 56(100), 54(200), 50(100), 55(150), 95(30), 75(30), 45(30); đầu 5=(10)/số, đầu 2=(20)/số, đầu 1=(10)/số; lô 25(10), 26(10), 63(20), 02(7), 23(40), 32(40), 46(40), 74(40), 75(40)”. Trần Thị H khai nhận đây là hình ảnh tin nhắn mua bán số lô, đề với Trần Văn H2 ngày 13/8/2023.

Tại mục tin nhắn có số thuê bao 0347.020.465 nhắn tin mua số lô, số đề của Trần Thị H thể hiện nội dung “Lô 07.17.37 mc 10đ. Đề đầu đít 0 mc 10k. Đề 85. 50k. Đề 84.86.27.72.14.41.70 mc 20k; Lô 27.72.70 mc 5đ. Đề cặp 03 mc 20k; Lô 99 10đ. Đề cặp 04 mc 30k; Lô 99.77 mc 30đ. Lô 65 5đ. Đề 52 20k; Lô 07.70 mc 20đ. Lô 29.92 mc 5đ; Lô 27.99 mc 75đ. Lô 17,62 mc 25đ; Lô 72 30đ; Lô 16 10đ. Lô 61,99 mc 5đ. Đề cặp 11 mc 50k; Ba càng 516, 561= 60 ngàn một số, Xiên 3.. 48, 84, 33 = 20 k, 16.61.33=20k, 65.48.86=20k; Đề đầu đít 3 mc 10k. Tổng 11 tin”. Trần Thị H khai nhận đây là tin nhắn mua bán số lô, đề với Trần Bá T2 trong ngày 10/10/2023.

Cơ quan điều tra đã triệu tập Trần Văn H2, Trần Bá T2, quá trình làm việc H2T2 khai nhận đã sử dụng điện thoại để gửi tin nhắn mua số lô, số đề, số ba càng, số lô xiên của Trần Thị H, đồng thời H2 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đen, T2 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh.

Tiến hành khai thác dữ liệu trong điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu đen của Trần Văn H2 lắp sim V số thuê bao 0965.068.805. Trần Văn H2 khai nhận khi biết Trần Thị H bị Cơ quan điều tra bắt giữ thì H2 đã xoá ứng dụng Telegram trên điện thoại về việc mua số lô, số đề ngày 13/8/2023. Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh của Trần Bá T2 lắp sim số thuê bao 0914.411.685. Trần Bá T2 khai nhận khi biết Trần Thị H bị bắt đã tháo sim số 0347.020.465 nhắn tin mua số lô, số đề, số lô xiên, số ba càng của Trần Thị H ngày 10/10/2023 bẻ vứt đi không xác định được địa điểm.

* Về vật chứng đã thu giữ là điện thoại di động của Trần Thị H, Trần Văn H2, Trần Bá T2 được Cơ quan điều tra được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam.

Quá trình điều tra, các bị cáo Trần Thị H, Trần Văn H2Trần Bá T2 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS-P1 ngày 05/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố các bị cáo Trần Thị H, Trần Văn H2Trần Bá T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 47, 58 và 65 (đối với các bị cáo); điểm i khoản 1 Điều 51 (đối với H2); khoản 2 Điều 51 (Đối với HT2); điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (đối với H); các Điều 106, 135, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thị H, Trần Văn H2Trần Bá T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt:

- Bị cáo Trần Thị H từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Trần Bá T2 từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị cáo Trần Văn H2 từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung các bị cáo Trần Thị H, Trần Văn H2Trần Bá T2, mỗi bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 03 điện thoại di động của các bị cáo Trần Thị H, Trần Văn H2Trần Bà T4; truy thu số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc và tiền thu lợi bất chính.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như trong cáo trạng và không có ý kiến tranh luận hay bào chữa gì. Bản thân các bị cáo đều đã nhận thức rõ sai phạm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 13/8/2023, tại thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam, Trần Thị H đã đánh bạc trái phép dưới hình thức bán các số đề, số lô với số tiền 7.639.600 đồng cho Trần Văn H2. Kết quả H2 trúng số đề 28, trúng 40 điểm số lô 23, 10 điểm số lô 25, 10 điểm số lô 26, 80 điểm số lô 46, 80 điểm số lô 75 và đã được Trần Thị H thanh toán trả số tiền 19.200.000 đồng. Tổng số tiền Trần Thị HTrần Văn H2 đánh bạc ngày 13/8/2023 là 7.639.600 đồng + 19.200.000 đồng = 26.839.600 đồng.

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 10/10/2023, Trần Thị H đã đánh bạc trái phép dưới hình thức bán các số đề, số lô, số lô xiên, số ba càng với số tiền 10.546.000 đồng cho Trần Bá T4. Kết quả T4 trúng 5 điểm số lô 61, 5 điểm số lô 92, 30 điểm số lô 77, 80 điểm số lô 77 và đã được Trần Thị H thanh toán trả số tiền 9.600.000 đồng. Tổng số tiền Trần Thị HTrần Bá T2 đánh bạc ngày 10/10/2023 là 10.546.000 đồng + 9.600.000 đồng = 20.146.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Trần Thị H, Trần Văn H2Trần Bá T2 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này, các bị cáo đều là người thực hành, trong đó Trần Thị H là người trực tiếp bán số lô, số đề cho Trần Văn H2 và bán số lô, số đề, số lô xiên, số ba càng Trần Bá T2 nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền H đánh bạc cùng Trần Văn H2 là 26.839.600 đồng và số tiến H đánh bạc cùng Trần Bá T2 là 20.146.000 đồng. Trần Văn H2Trần Bá T2 là người trực tiếp mua số lô, số đề nên đồng phạm với Trần Thị H và phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với số tiền mỗi người đã sử dụng đánh bạc với H.

Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đối với các bị cáo đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Các bị cáo Trần Thị HTrần Văn H2 đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Trần Bá T2 tuy không có tiền án, tiền sự nhưng lịch sử bản thân năm 2013 đã bị TAND tỉnh Hà Nam xử lý hình sự về tội danh “Đánh bạc” nhưng đã được xoá án tích.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Bá T2Trần Văn H2 đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Trần Thị H thực hiện hành vi đánh bạc 02 lần, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Văn H2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Trần Thị HTrần Bá T2 phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Trần Thị H được chính quyền địa phương xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bác ruột chồng là ông Trần Khắc C1 được tổ quốc ghi công vì đã hi sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, tại phiên toà, bị cáo xuất trình biên lai thu tiền bị cáo đã tự nguyện nộp 18.385.600 đồng tiền sử dụng vào việc đánh bạc và án phí; bị cáo Trần Bá T2 có mẹ đẻ là Trần Thị K được tặng bằng chứng nhận huy chương vì sự nghiệp giáo dục nên cho các bị cáo Trần Thị HTrần Bá T2 hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo đều đã có gia đình, đủ độ tuổi nhận thức được hành vi của mình nhưng vì hám lợi đã bất chấp pháp luật để thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi, vai trò phạm tội của các bị cáo.

Xét thấy các bị cáo Trần Thị HTrần Văn H2 có nhân thân tốt, bị cáo Trần Bá T2 từng bị kết án nhưng đã được xoá án tích nay lại phạm tội mới nhưng tính chất, mức độ thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, bị cáo Trần Thị H có 02 con còn rất nhỏ (sinh năm 2013 và 2015), chồng bị cáo đang chấp hành án phạt tù nên các con cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo để các bị cáo trở thành người tốt, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung, cũng như thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Trần Thị H, Trần Văn H2, Trần Bá T2 phạm tội đều nhằm mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, cũng xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh thực tế của các bị cáo để áp dụng mức hình phạt bổ sung cho phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu trắng của Trần Thị Hà lắp sim V số thuê bao 0983.400.868; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu đen của Trần Văn H2 lắp sim V số thuê bao 0965.068.805 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh của Trần Bá T2 lắp sim số thuê bao 0914.411.685 được sử dụng để làm công cụ thực hiện tội phạm nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Truy thu tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc và thu lợi bất chính: Truy thu của bị cáo Trần Thị H số tiền là 17.565.950 đồng, Trần Văn H2 số tiền là 19.200.000 đồng và Trần Bá T2 số tiền là 9.600.000 đồng. Ghi nhận bị cáo Trần Thị H đã nộp số tiền là 18.385.600 đồng theo biên lai thu tiền số 0001589 ngày 15/4/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam, được đối trừ khi thi hành án dân sự.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 và 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 35, 47, 58 và 65 (đối với các bị cáo); điểm i khoản 1 Điều 51 (đối với H2); khoản 2 Điều 51 (đối với HT2); điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (đối với H); Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo.

- Căn cứ các Điều 106, 135, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hình sự:

1.1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thị H, Trần Văn H2Trần Bá T2 phạm tội “Đánh bạc”.

1.2. Xử phạt:

  • - Bị cáo Trần Thị H 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/4/2024).
  • - Bị cáo Trần Bá T2 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/4/2024).
  • - Bị cáo Trần Văn H2 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/4/2024).

Giao các bị cáo Trần Thị H, Trần Bá T2, Trần Văn H2 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung:

  • - Phạt bổ sung bị cáo Trần Thị H 5.000.000 (Năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
  • - Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn H2 3.000.000 (Ba triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
  • - Phạt bổ sung bị cáo Trần Bá T2 3.000.000 (Ba triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

3. Xử lý vật chứng:

- Truy thu tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc và thu lợi bất chính:

  • + Truy thu của bị cáo Trần Thị H số tiền là 17.565.950 (Mười bảy triệu năm trăm sáu mươi năm nghìn chín trăm năm mươi) đồng. Ghi nhận bị cáo Trần Thị H đã nộp số tiền là 18.385.600 (Mười tám triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm) đồng theo biên lai thu tiền số 0001589 ngày 15/4/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam, được đối trừ khi thi hành án dân sự.
  • + Truy thu của bị cáo Trần Văn H2 số tiền là 19.200.000 (Mười chín triệu hai trăm nghìn) đồng.
  • + Truy thu của bị cáo Trần Bá T2 số tiền là 9.600.000 (Chín triệu sáu trăm nghìn) đồng.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Các điện thoại cùng vỏ bao gói, gồm:

  • + 01 điện thoại di động Iphone, màu trắng sữa, mặt trước và mặt sau của máy có nhiều vết rạn nứt; viền máy màu vàng. Có số IMEI: 352292934920502; số IMEI 2: 352292934740611. Trong máy lắp 01 sim Viettel, trên Sim in các dãy số 89846, 48000, 00417, 4261. Tình trạng máy cũ của Trần Thị H.
  • + 01 điện thoại di động SamSung, màu đen, màn hình bị vỡ, có số IMEI 1: 350753201833035; Số IMEI 2: 352044981833033. Trong máy lắp 01 Sim Viettel, trên Sim in các dãy số 8984, 04800, 88254, 84453. Tình trạng máy đã cũ của Trần Văn H2.
  • + 01 điện thoại di động Nokia, màu xanh loại bàn phím, có số IMEI: 359097702108625; số IMEI 2: 359097702608624. Trong máy lắp 01 Sim, trên Sim in các dãy số 89840, 20002, 16268, 35885. Tình trạng máy đã cũ của Trần Bá T2.

Tất cả các điện thoại trên cùng vỏ bao gói, niêm phong lại vào phong bì dán kín ký hiệu NPL01, được đóng dấu tròn, màu đỏ của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam theo biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và niêm phong lại đồ vật, tài liệu và biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/02/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam.

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Thị H, Trần Văn H2Trần Bá T2, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, có quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng NVHS Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, Tòa hình sự, Bộ phận HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Thuy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự sơ thẩm về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H đã đánh bạc trái phép dưới hình thức bán các số đề, số lô với số tiền 7.639.600 đồng cho Trần Văn H2. Kết quả H2 trúng số đề 28, trúng 40 điểm số lô 23, 10 điểm số lô 25, 10 điểm số lô 26, 80 điểm số lô 46, 80 điểm số lô 75 và đã được Trần Thị H thanh toán trả số tiền 19.200.000 đồng. Tổng số tiền Trần Thị H và Trần Văn H2 đánh bạc ngày 13/8/2023 là 7.639.600 đồng + 19.200.000 đồng = 26.839.600 đồng. Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 10/10/2023, Trần Thị H đã đánh bạc trái phép dưới hình thức bán các số đề, số lô, số lô xiên, số ba càng với số tiền 10.546.000 đồng cho Trần Bà T2. Kết quả T2 trúng 5 điểm số lô 61, 5 điểm số lô 92, 30 điểm số lô 77, 80 điểm số lô 77 và đã được Trần Thị H thanh toán trả số tiền 9.600.000 đồng. Tổng số tiền Trần Thị H và Trần Bá T2 đánh bạc ngày 10/10/2023 là 10.546.000 đồng + 9.600.000 đồng = 20.146.000 đồng. Hành vi nêu trên của các bị cáo Trần Thị H, Trần Văn H2 và Trần Bá T2 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger