|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HS-ST
Ngày 09-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HÒ, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Ngọc Khánh và bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thu Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 09/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 19/6/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HS ngày 27/6/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Kim C; sinh năm 1972, tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ dân phố F, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Thợ may; trình độ học vấn lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H và bà Bùi Thị P; có chồng: Phạm Thanh H1, có 03 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2024 đến nay, hiện đang tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đình V, sinh năm 1973 – vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
- Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1984–vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Y là ông Hoàng Minh C1 – Luật sư thuộc Văn phòng L – Đoàn luật sư tỉnh Đ – có mặt.
- Chị Hồ Thị S, sinh năm 1990 – vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
- Ông: Phạm Thanh H1, sinh năm 1971 – vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 02/2023 đến tháng 7/2023, bị cáo Nguyễn Thị Kim C đã cho các cá nhân vay tiền với lãi suất cao, vượt quá mức lãi suất theo quy định của pháp luật nhằm thu lợi bất chính. Để thực hiện việc giao dịch cho vay tiền, bị cáo đã sử dụng số tài khoản 5208205094240 mang tên Nguyễn Thị Kim C, mở tại ngân hàng N, để chuyển tiền cho người vay và người vay trả tiền gốc, tiền lãi qua số tài khoản này khi đến hạn.
Cụ thể, Nguyễn Thị Kim C đã cho các cá nhân vay tiền với mức lãi suất 109,5%, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, cụ thể như sau:
Vào ngày 08/02/2023, bị cáo cho ông Nguyễn Đình V, sinh năm 1973, trú tại tổ dân phố B, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk vay số tiền 30.000.000 đồng, thời hạn vay 180 ngày (kể từ ngày 08/02/2023 đến ngày 06/8/2023), khi vay hai bên không viết giấy vay tiền, thế chấp tài sản và thỏa thuận về lãi suất. Đến ngày 25/3/2023, bị cáo sử dụng tài khoản Zalo cá nhân mang tên “Kchnguyen” cài đặt trên điện thoại Iphone 12 Pro Max của mình để nhắn tin, gọi điện thoại vào tài khoản Z mang tên “Nguyen Dinh Vu” để yêu cầu ông V trả tiền lãi của 47 ngày (tính từ ngày 08/02/2023 đến ngày 26/3/2023) với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tương ứng số tiền 4.230.000 đồng, thì ông V đồng ý và sử dụng số tài khoản 0041000118081 của mình, mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N1 chuyển đến số tài khoản 5208205094240 của bị cáo số tiền 4.300.000 đồng (trong đó 4.230.000 đồng tiền lãi, còn 70.000 đồng ông V cho bị cáo). Đến thời hạn trả nợ, ông V đề nghị bị cáo tiếp tục gia hạn thời hạn cho vay thêm 60 ngày nữa (từ ngày 07/8/2023 đến ngày 05/10/2023), thì bị cáo đồng ý. Đến ngày 31/10/2023, ông V đã sử dụng số tài khoản số 0041000118081 của mình chuyển đến số tài khoản 5208205094240 của bị cáo số tiền 40.000.000 đồng, trong đó: 30.000.000 đồng tiền gốc và 9.990.000 đồng tiền lãi (tương đương với 111 ngày, tính từ ngày 27/3/2023 đến ngày 15/7/2023) và 10.000 đồng tiền được khấu trừ sau khi ông V trả hết nợ. Bị cáo tính tiền lãi trong thời hạn 240 ngày và không tính tiền lãi quá hạn, tổng số tiền lãi ông V phải trả cho bị cáo là 21.600.000 đồng, ông V đã trả cho bị cáo 14.230.000 đồng, còn nợ lại bị cáo 7.370.000 đồng, sau đó bị cáo bớt cho ông V 2.370.000 đồng tiền lãi, còn lại 5.000.000 đồng tiền lãi đến nay ông V vẫn chưa trả cho bị cáo.
Như vậy, ngày 08/02/2023, bị cáo đã cho ông V vay số tiền 30.000.000 đồng, thời hạn vay là 240 ngày (từ ngày 08/02/2023 đến ngày 05/10/2023), với lãi suất 3.000 đồng/ 1.000.000 đồng/ 1 ngày, tương đương lãi suất 109,5%/ năm (gấp 5,475 lần mức lãi cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự). Tổng số tiền ông V đã trả cho bị cáo là 44.230.000 đồng, bao gồm: 30.000.000 đồng tiền gốc, 14.220.000 đồng tiền lãi (tương đương với 158 ngày) và 10.000 đồng tiền lãi được khấu trừ sau khi ông V trả hết nợ. Số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, không vượt quá 20%/năm là 2.597.260 đồng, thu lợi bất chính số tiền 11.622.740 đồng.
Tiếp đó, vào ngày 21/4/2023, bị cáo cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1984 và chị Hồ Thị S, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố H, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk vay số tiền 700.000.000 đồng, thời hạn vay là 20 ngày (kể từ ngày 21/4/2023 đến ngày 10/5/2023), khi vay có viết giấy vay nợ được in sẵn nhưng không ghi lãi suất và không cầm cố tài sản. Trong đó, hai bên thoả thuận miệng với nhau là: Cho vay 300.000.000 đồng, mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày; còn 400.000.000 đồng cho vay, lãi suất 2.500 đồng/1.000.000 đồng/1ngày. Như vậy, tổng số tiền lãi trong thời hạn vay 20 ngày vợ chồng ông Y phải trả cho bị cáo là 38.000.000 đồng (bao gồm: 18.000.000 đồng tiền lãi của khoản vay 300.000.000 đồng và 20.000.000 đồng tiền lãi của khoản vay 400.000.000 đồng). Sau đó, bị cáo sử dụng số tài khoản 5208205094240 của mình chuyển số tiền 700.000.000 đồng đến số tài khoản 5209666658888 của ông Y, mở tại Ngân hàng N cho ông Y vay theo thỏa thuận. Đến thời hạn trả nợ, bị cáo sử dụng tài khoản Zalo tên “Kchnguyen” của mình gọi điện và nhắn tin đến tài khoản cá nhân mang tên “Nguyen Van Y1” để yêu cầu vợ chồng ông Y trả tiền gốc và tiền lãi vay cho bị cáo. Sau đó ngày 14/5/2023, ông Y sử dụng số tài khoản 5209666658888 của mình, chuyển 38.000.000 đồng tiền lãi đến số tài khoản 5208205094240 của bị cáo và xin gia hạn khoản vay gốc thêm 20 ngày nữa (kể từ ngày 11/5/2023 đến ngày 30/5/2023), thì bị cáo đồng ý. Đến ngày 03/6/2023, ông Y trực tiếp trả tiền mặt cho bị cáo tiền lãi vay 20 ngày tiếp theo là 38.000.000 đồng (trong đó: 18.000.000 đồng tiền lãi khoản vay 300.000.000 đồng và 20.000.000 đồng tiền lãi khoản vay 400.000.000 đồng). Đến nay, số tiền gốc 700.000.000 đồng vợ chồng ông Y, bà S chưa trả cho bị cáo.
Như vậy, ngày 21/4/2023, bị cáo cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Y và bà Hồ Thị S vay 700.000.000 đồng, thời hạn vay sau 40 ngày (kể từ ngày 21/4/2023 đến ngày 30/5/2023), lãi suất thoả thuận, cụ thể:
Khoản vay 400.000.000 đồng, lãi suất 2.500 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tương đương với lãi suất 91,25%/năm (gấp 4,56 lần mức lãi cao nhất quy định tại Điều 468 BLDS), tổng số tiền lãi vợ chồng ông Y, bà S đã trả cho bị cáo khoản vay này là 40.000.000 đồng.
Khoản vay 300.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, tương đương với lãi suất 109,5%/năm (gấp 5,475 lần mức lãi cao nhất quy định tại Điều 468 BLDS), tổng số tiền lãi vợ chồng ông Y, bà S đã trả cho bị cáo khoản vay này là 36.000.000 đồng; trong đó: Số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, không vượt quá 20%/năm là 6.575.342 đồng, thu lợi bất chính số tiền 29.424.658 đồng.
Tổng cộng, bị cáo đã cho các cá nhân vay tiền, số tiền gốc cho vay nhằm thu lợi bất chính là 330.000.000 đồng, với mức lãi suất 109,50 %/năm, gấp 5,475 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi theo quy định là 9.172.602 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 41.047.398 đồng.
Vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B thu giữ gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu trắng, số Imei 1: 357061224993114, số Imei 2: 357061224850649; 01 thẻ sim có dãy số: 89840200010865443006, thuê bao số 0969426379 được gắn vào trong điện thoại di động Iphone 12 Pro Max; 01 sim thuê bao di động số 0384995748; 02 chứng từ giao dịch ngày 31/10/2023 của Ngân hàng N – Chi nhánh B, có thông tin khách hàng là Nguyễn Thị Kim C, địa chỉ: phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, số tài khoản: 5208205094240.
Bản Cáo trạng số 23/CT-VKSBH ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ giữ quyền công tố trình bày luận tội và tranh luận xác định: Do ý thức coi thường pháp luật của Nhà nước, xem thường trật tự quản lý kinh tế và động cơ tư lợi cá nhân. Nên trong khoảng thời gian từ tháng 02/2023 đến tháng 8/2023, tại địa bàn thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo Nguyễn Thị Kim C, đã cho các cá nhân vay tiền. Tổng số tiền gốc cho vay là 330.000.000 đồng, với mức lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,475 lần so với mức lãi suất cao nhất, quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi đã thu là 50.220.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự không vượt quá 20%/năm là 9.172.602 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 41.047.398 đồng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim C về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim C từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu trắng, số Imei 1: 357061224993114, số Imei 2: 357061224850649. Trả lại cho bị cáo: 01 thẻ sim có dãy số: 89840200010865443006, thuê bao số 0969426379 được gắn vào trong điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, màu trắng của bị cáo với mục đích nghe, gọi nhưng không sử dụng mục đích phạm tội; 01 sim thuê bao di động số 0384995748 bị cáo sử dụng để đăng ký tài khoản cá nhân tên "Kchnguyen", không phải là công cụ phạm tội.
Đối với 02 chứng từ giao dịch ngày 31/10/2023 của Ngân hàng N – Chi nhánh B, có thông tin khách hàng là Nguyễn Thị Kim C, địa chỉ: phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, số tài khoản: 5208205094240. Đây là tài liệu có chứa các thông tin liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự không vượt quá 20%/năm là 9.172.602 đồng đề nghị truy thu của bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền bị cáo thu lợi bất chính 41.047.397 đồng, đề nghị truy thu của bị cáo, trả lại cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (người vay), cụ thể trả cho ông Nguyễn Đình V 11.622.740 đồng; trả cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Y và chị Hồ Thị S số tiền 29.424.657 đồng.
Đối với số tiền bị cáo cho ông V vay, ông V đã trả tiền gốc là 30.000.000 đồng, đề nghị truy thu sung vào ngân sách Nhà Nước ½ số tiền gốc bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, tương ứng 30.000.000 đồng/2 = 15.000.000 đồng, trả lại cho ông Phạm Thanh H1 số tiền 15.000.000 đồng.
Đối với số tiền gốc 300.000.000 đồng vợ chồng ông Y, chị S vay của bị cáo hiện nay chưa trả, đề nghị truy thu của ông Y, bà S số tiền 300.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà Nước ½ số tiền gốc bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, tương ứng 150.000.000 đồng; còn lại 150.000.000 đồng trả lại cho ông Phạm Thanh H1 chồng của bị cáo.
Đối với 10.000 đồng ông V trả cho bị cáo tiền lãi ngày 31/10/2023. Bị cáo tự nguyện giao nộp để sung vào ngân sách Nhà nước, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với hành vi mà nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát truy tố và kết luận các bị cáo phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là đúng. Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Y trình bày tranh luận: Nhất trí với đại diện Viện kiểm sát về việc đề nghị buộc bị cáo trả lại cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Y và chị Hồ Thị S số tiền 29.424.657 đồng và đề nghị bị cáo cho thời gian để vợ chồng ông Nguyễn Văn Y và chị Hồ Thị S có điều kiện sắp xếp trả cho bị cáo khoản tiền 400.000.000 đồng.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với hành vi mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ truy tố. Bị cáo thừa nhận trong khoảng thời gian từ tháng 02/2023 đến tháng 7/2023 tại địa bàn thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo đã có hành vi cho cho ông Nguyễn Đình V và vợ chồng ông Nguyễn Văn Y, chị Hồ Thị S vay tiền. Tổng số tiền gốc cho vay là 330.000.000 đồng, với mức lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,475 lần so với mức lãi suất cao nhất, quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi đã thu là 50.220.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự không vượt quá 20%/năm là 9.172.602 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 41.047.398 đồng. Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là đúng, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, đánh giá tại phiên tòa. Bị cáo là người có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của bản thân trong cuộc sống. Bị cáo biết rõ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nhằm thu lợi bất chính bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Số tiền mà bị cáo thu lợi bất chính là 41.047.398 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự, quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng ..., thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
[3] Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về tài chính, tín dụng và trật tự pháp luật xã hội. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Xét tính chất vụ án, hành vi, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Nguyễn Thị Kim C có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, giáo dục tại cộng đồng, vừa thể hiện chính sách khoan hồng đối với người phạm tội và cũng có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
[8] Xét quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tại phiên tòa đề nghị về tội danh, đề nghị hình phạt được áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với đề nghị truy thu sung vào ngân sách Nhà nước ½ số tiền gốc bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, tương ứng 30.000.000 đồng/2 = 15.000.000 đồng, trả lại cho ông Phạm Thanh H1 số tiền 15.000.000 đồng và truy thu của ông Y, bà S số tiền 300.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước ½ số tiền gốc bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, tương ứng 150.000.000 đồng; còn lại 150.000.000 đồng trả lại cho ông Phạm Thanh H1 chồng của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo sử dụng số tiền trên vào mục đích phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền trên là phù hợp với Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. do đó, không có căn cứ để chấp nhận đề nghị này của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ.
[9] Xét ý kiến bảo vệ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn Y, Hội đồng xét xử xét thấy, về việc đề nghị buộc bị cáo trả lại cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Y và chị Hồ Thị S số tiền 29.424.657 đồng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về đề nghị bị cáo cho thời gian để vợ chồng ông Nguyễn Văn Y và chị Hồ Thị S có điều kiện sắp xếp trả cho bị cáo khoản tiền 400.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là yêu cầu trong giao dịch dân sự giữa bị cáo và vợ chồng ông Nguyễn Văn Y và chị Hồ Thị S nên sẽ được xem xét giải trong vụ án dân sự khi đương sự có đơn yêu cầu.
[10] Về xử lý vật chứng:
[10.1] Đối với số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự không vượt quá 20%/năm là 9.172.602 đồng bị cáo đã thu được, Hội đồng xét xử xét thấy đây là khoản tiền thu được phát sinh từ tội phạm nên cần truy thu của bị cáo để nộp vào ngân sách Nhà nước.
[10.2] Đối với số tiền bị cáo cho ông V vay, ông V đã trả tiền gốc là 30.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo sử dụng số tiền này vào việc phạm tội. Vì vậy, cần truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.
[10.3] Đối với số tiền gốc 300.000.000 đồng vợ chồng ông Y, chị S vay của bị cáo hiện nay chưa trả. Hội đồng xét xử xét thấy, khoản tiền này bị cáo đã sử dụng để cho vay nặng lãi. Vì vậy, cần truy thu của ông Y, chị S số tiền 300.000.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà Nước.
[10.4] Đối với 10.000 đồng ông V trả tiền lãi ngày 31/10/2023 cho bị cáo. Bị cáo tự nguyện giao nộp để nộp vào ngân sách Nhà nước, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10.5] Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu trắng, số Imei 1: 357061224993114, số Imei 2: 357061224850649, Hội đồng xét xử xét thấy đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước;
[10.6] Đối với 01 thẻ sim có dãy số: 89840200010865443006, thuê bao số 0969426379 được gắn vào trong điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, màu trắng của bị cáo; bị cáo gắn vào điện thoại với mục đích nghe, gọi và 01 sim thuê bao di động số 0384995748. Đây là số thuê bao bị cáo sử dụng để đăng ký tài khoản Zalo cá nhân tên “Kchnguyen”, Hội đồng xét xử xét thấy đây không phải là công cụ phạm tội, vì vậy cần trả lại cho bị cáo.
[10.7] Đối với 02 chứng từ giao dịch ngày 31/10/2023 của Ngân hàng N – Chi nhánh B, có thông tin khách hàng là Nguyễn Thị Kim C, địa chỉ: phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, số tài khoản: 5208205094240. Đây là tài liệu có chứa các thông tin liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
[11] Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền bị cáo thu lợi bất chính 41.047.397 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền lãi vượt quá quy định mà bị cáo thu lợi bất chính từ ông V và vợ chồng ông Y, chị S, vì vậy cần buộc bị cáo phải trả lại cho những người vay số tiền trên, cụ thể trả cho: Ông Nguyễn Đình V số tiền 11.622.740 đồng; trả cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Y và chị Hồ Thị S số tiền 29.424.657 đồng.
[12] Đối với việc bị cáo và ông Phạm Thanh H1 cho rằng số tiền bị cáo cho ông V và vợ chồng ông Y, chị S vay lấy lãi nặng thu lợi bất chính thì ông H1 không biết, ông H1 cho rằng đây là số tiền chung của hai vợ chồng, nên bị cáo đề nghị trả lại cho ông ½ số tiền gốc bị cáo đã cho vay. Xét thấy ý kiến này của bị cáo không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Trường hợp giữa ông Phạm Thanh H1 và bị cáo Nguyễn Thị Kim C có tranh chấp về khoản tiền là tài sản chung mà bị cáo C đã dùng để cho vay lãi nặng thì sẽ được giải quyết thành vụ án dân sự khi đương sự có đơn yêu cầu.
[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 35; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt chính
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim C 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã B, tỉnh Đắk Lắk nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Kim C cho Ủy ban nhân dân phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường A, thị xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Kim C số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
- Về hình phạt chính
- Về biện pháp tư pháp
Căn cứ Điều 46, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự.
- [2.1] Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim C phải trả lại cho ông Nguyễn Đình V số tiền là 11.622.740 đồng.
- [2.2] Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim C phải trả lại cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Y và chị Hồ Thị S số tiền 29.424.657 đồng.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- [3.1] Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị Kim C số tiền 39.182.602 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước (gồm 30.000.000 đồng tiền gốc bị cáo đã cho ông Nguyễn Đình V vay và 9.182.602 đồng tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu được từ người vay ông Nguyễn Đình V và vợ chồng ông Nguyễn Văn Y, chị Hồ Thị S).
- [3.2] Truy thu của vợ chồng ông Nguyễn Văn Y và bà Hồ Thị S 300.000.000 đồng tiền nợ gốc mà bị cáo Nguyễn Thị Kim C đã cho vay nhưng vợ chồng ông Y, chị S chưa trả để nộp Ngân sách Nhà nước.
- [3.3] Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thị Kim C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu trắng, số Imei 1: 357061224993114, số Imei 2: 357061224850649 để nộp Ngân sách Nhà nước.
- [3.4] Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Kim C 01 thẻ sim có dãy số: 89840200010865443006, thuê bao số 0969426379 được gắn vào trong điện thoại di động Iphone 12 Pro Max, màu trắng của bị cáo và 01 sim thuê bao di động số 0384995748.
(Vật chứng có đặc điểm cụ thể theo Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu ngày 30/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B; biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ ngày 21/6/2024).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị Kim C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
- [6] Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Khanh |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (criminal case)
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trong khoảng thời gian từ tháng 02/2023 đến tháng 8/2023, tại địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo Nguyễn Thị Kim C, đã cho các cá nhân vay tiền. Tổng số tiền gốc cho vay là 330.000.000 đồng, với mức lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,475 lần so với mức lãi suất cao nhất, quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi đã thu là 50.220.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự không vượt quá 20%/năm là 9.172.602 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 41.047.398 đồng
