TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST Ngày 24 - 9 - 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Dũng và bà Bùi Thị Lành.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lã Thị Hồng T, sinh năm 1994; nơi ĐKHKTT: Cụm D, thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: Tầng D, số A, ngõ E, đường J, quận Đ, thành phố T, Đài Loan (Trung Quốc).
Người đại diện theo uỷ quyền của chị Lã Thị Hồng T để giao, nhận tài liệu, văn bản tố tụng của Toà án: Bà Đặng Hồng T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Cụm D, thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1994; nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam. Anh K đang ở Nhật Bản, không rõ địa chỉ cụ thể.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Hồng T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Cụm D, thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam.
Tại phiên tòa vắng mặt chị T, bà T1 nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt; anh K vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của chị Lã Thị Hồng T và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được xác định như sau:
Chị Lã Thị Hồng T và anh Nguyễn Trung K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 30/9/2013 tại UBND xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống nên thường xuyên cãi nhau. Năm 2017, anh K đi lao động tại Nhật Bản, từ đó vợ chồng mỗi người ở một nơi, ít liên lạc với nhau, nếu có nói chuyện thì cũng chỉ cãi nhau. Chị T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.
Về con chung: Chị T và anh K có 02 con chung là cháu Nguyễn Lã Đức A, sinh ngày 12/6/2014; Nguyễn Lã Trúc L, sinh ngày 24/3/2016. Hai cháu hiện nay đang ở với bà ngoại ở thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam. Khi ly hôn, chị T đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu A, L cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành tự lập; không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
Do chị T đang lao động ở Đài Loan nên chị T uỷ quyền cho mẹ đẻ là bà Đặng Hồng T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Cụm D, thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu A, L trong thời gian chị T lao động ở nước ngoài.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản riêng, công nợ chung: Chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị T tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của bà Đặng Hồng T1: Thống nhất với lời khai của chị T về thời gian kết hôn và con chung của chị T và anh K. Trong cuộc sống, chị T, anh K thường xuyên cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị T xin ly hôn anh K và ủy quyền cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu A, L trong thời gian chị T lao động ở Đài Loan, bà nhất trí nhận sự uỷ quyền của chị T. Do công việc bận nên bà T1 xin được giải quyết vắng mặt. Ngoài các nội dung trên bà T1 không có yêu cầu gì.
* Ý kiến của bà Trần Thị Đ - mẹ đẻ của anh K: Thống nhất với lời khai của chị T về thời gian kết hôn và con chung của anh K và chị T. Sau khi kết hôn, anh K, chị T sống cùng gia đình bà và không có điều tiếng gì. Quá trình chung sống, anh K, chị T thỉnh thoảng có cãi nhau nhưng nguyên nhân cụ thể bà không biết. Năm 2017, anh K đi lao động tại Nhật Bản và khi hết hạn hợp đồng lao động, anh K bỏ trốn ra ngoài làm việc cho đến nay. Cuối năm 2022, chị T đi lao động ở Đài Loan. Nay chị T xin ly hôn anh K, bà không có ý kiến gì. Hai con chung của anh K và chị T đang ở với bà ngoại. Trường hợp ly hôn, bà đề nghị giao hai cháu A, L cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và nhất trí việc chị T uỷ quyền cho mẹ đẻ là bà Đặng Hồng T1 thay mặt chị T nuôi dưỡng, chăm sóc hai cháu trong thời gian chị T lao động ở Đài Loan. Về tài sản chung, công nợ chung anh K, chị T không có.
* Ý kiến của UBND xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam: Về quan hệ hôn nhân, chị T và anh K đăng ký kết hôn ngày 30/9/2013 tại UBND xã A, huyện B. Hiện nay, anh K đang lao động tại Nhật Bản nhưng không rõ địa chỉ, chị T đang lao động ở Đài Loan. Quá trình chung sống anh, chị có mâu thuẫn hay không địa phương không biết. Chị T và anh K có 02 con chung là cháu Nguyễn Lã Đức A, sinh ngày 12/6/2014 và Nguyễn Lã Trúc L, sinh ngày 24/3/2016. Khi anh K, chị T ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho hai cháu. Anh K, chị T không có tài sản chung là nhà, đất ở địa phương, không có nợ chung đối với các tổ chức ở thôn, xã.
* Ý kiến của cháu Nguyễn Lã Đức A, Nguyễn Lã Trúc L: Tại Biên bản lấy lời khai ngày 20/5/2024, cháu Nguyễn Lã Đức A và Nguyễn Lã Trúc L có nguyện vọng được ở với mẹ.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tại phiên tòa:
+ Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại các Điều 70, 71. Bị đơn không chấp hành quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 88, 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Xử cho ly hôn giữa chị T và anh K; giao cháu Nguyễn Lã Đức A, Nguyễn Lã Trúc L cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung với chị T; án phí ly hôn sơ thẩm, chị T phải nộp 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Do anh Nguyễn Trung K (bị đơn) đang ở Nhật Bản nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của của các đương sự:
Do chị T không rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hiện nay của anh K tại Nhật Bản, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh K thông qua mẹ đẻ của anh K là bà Trần Thị Đ, yêu cầu bà Đ thông báo cho anh K biết nội dung các văn bản tố tụng và làm bản tự khai gửi về Tòa án. Thông qua bà Đ, anh K biết việc chị T xin ly hôn anh K nhưng anh K không gửi cho Tòa án bản tự khai, vắng mặt tại các buổi làm việc. Tòa án đã tống đạt hợp lệ và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh K đều vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do. Căn cứ Nghị quyết số 01/HĐTP-TANDTC ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xác định anh Nguyễn Trung K thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, không khai báo, không cung cấp những tài liệu cần thiết cho Tòa án.
Đối với sự vắng mặt của chị T, bà T1: Chị T, bà T1 đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về yêu cầu xin ly hôn của chị Lã Thị Hồng T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị T và anh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam ngày 30/9/2013. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo chị T khai, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do cuộc sống không hoà hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau. Năm 2017, anh K đi lao động tại Nhật Bản, từ đó vợ chồng không quan tâm đến nhau, tình cảm ngày càng rạn nứt. Chị T xác định không còn tình cảm với anh K, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh K đã bị rạn nứt trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử ly hôn cho chị T và anh K là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị T và anh K có 02 con chung là cháu Nguyễn Lã Đức A, sinh ngày 12/6/2014; Nguyễn Lã Trúc L, sinh ngày 24/3/2016. Khi ly hôn, chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung. Do anh K hiện nay ở Nhật Bản nhưng không rõ địa chỉ cụ thể và không gửi văn bản ý kiến về Tòa án. Cháu A, L hiện nay đang ở với bà ngoại và có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, để ổn định môi trường sống, học tập của hai cháu và bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho các cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai cháu A, L cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các cháu trưởng thành, lao động tự lập được; anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Việc chị T uỷ quyền cho mẹ đẻ là bà Đặng Hồng T1 chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu A, L trong thời gian chị T lao động ở Đài Loan và bà T1 nhất trí nhận sự uỷ quyền của chị T là hoàn toàn tự nguyện. Khi anh K, chị T đi lao động ở nước ngoài, hai cháu A, L ở với bà T1 và do bà T1 chăm sóc, nuôi dưỡng nên chấp nhận sự uỷ quyền của chị T, tạm giao cho bà T1 nuôi dưỡng, chăm sóc hai cháu A, L trong thời gian chị T lao động ở Đài Loan cho đến khi chị T trở về Việt Nam.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung và các vấn đề khác:
Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Anh K đang ở Nhật Bản, không rõ địa chỉ và không có ý kiến tại Tòa án, do đó khi anh K, chị T phát sinh tranh chấp về tài sản, công nợ sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 147, Điều 195, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 469 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 121, Điều 122, Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/HĐTP-TANDTC ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử ly hôn giữa chị Lã Thị Hồng T và anh Nguyễn Trung K.
- Giao cháu Nguyễn Lã Đức A, sinh ngày 12/6/2014; Nguyễn Lã Trúc L, sinh ngày 24/3/2016 cho chị Lã Thị Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, lao động tự lập được; anh Nguyễn Trung K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chấp nhận sự uỷ quyền của chị T, tạm giao hai cháu Nguyễn Lã Đức A, Nguyễn Lã Trúc L cho bà Đặng Hồng T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Cụm D, thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam, là bà ngoại của hai cháu nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi chị T hết thời hạn lao động ở Đài Loan (Trung Quốc) trở về Việt Nam.
Sau khi ly hôn, anh K được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật, chị T và các thành viên trong gia đình không ai được cản trở anh K trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Lã Đức A, Nguyễn Lã Trúc L.
- Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lã Thị Hồng T phải nộp 300.000 đồng. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001460 ngày 17/5/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam, chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bà Đặng Hồng T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày; chị Lã Thị Hồng T và anh Nguyễn Trung K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lã Thị Hồng T xin ly hôn anh Nguyễn Trung K
