Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN BÀN

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13/6/2024

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Nghĩa;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Sông Hương và ông Hồ Trọng Trung;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HNGĐ Ngày 03/4/2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nông Thị P, sinh năm 1998.
  • Địa chỉ: Thôn G, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai.
  • - Bị đơn: Phạm Ngọc T (Tên gọi khác Phạm Văn T), sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn G, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai.
  • Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt.
  • - Người làm chứng: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1964
  • Địa chỉ: Thôn G, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai.
  • Vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Nông Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị có tự nguyên đăng ký kết hôn với anh Phạm Ngọc T (Tên gọi khác Phạm Văn T) vào ngày 08 tháng 6 năm 2017 tại UBND xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tình trạng vợ chồng thường xuyên cãi, chửi nhau, đánh nhau, vợ chồng không còn tôn trọng nhau trong cuộc sống. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không thể hòa hợp được, vợ chồng không có tiếng nói chung trong làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng mặc dù đã được hai bên gia đình và thôn bản giải hòa nhiều lần nhưng không thể hàn gắn được. Vợ chồng ly thân từ cuối năm 2022. Đến nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng. Nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Ngọc T (Tên gọi khác Phạm Văn T).

Về con chung: Chị và anh Phạm Ngọc T không có con chung, nên chị không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị và anh Phạm Ngọc T không có tài sản chung, nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về vay nợ chung; Chị xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không vay nợ cá nhân, tổ chức, ngân hàng nào và không cho ai vay nợ gì, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Phạm Ngọc T (Phạm Văn T) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với chị P về thời gian kết hôn, thời gian vợ chồng mâu thuẫn và sống ly thân, nhưng về nguyên nhân mâu thuẫn anh xác định là do chị P đi làm ăn xa ở tỉnh Bắc Ninh, nên tự ý sống ly thân anh từ năm 2022 cho đến nay. Anh xác định vẫn còn tình cảm với chị P, nên anh không nhất trí ly hôn với chị Nông Thị P.

Về con chung : Anh T xác nhận anh và chị Nông Thị P không có con chung, nên anh không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh và chị P không có tài sản chung, nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về vay nợ chung: Anh xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không vay nợ cá nhân, tổ chức, ngân hàng nào và không cho ai vay nợ gì, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Người làm chứng xác nhận: Chị Nông Thị P và anh Phạm Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn G, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai. Từ đầu năm 2022 thì vợ chồng mâu thuẫn, dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nông Thị P có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Vì vậy, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn mở phiên tòa để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Nông Thị P, bị đơn anh Phạm Ngọc T (Tên gọi khác Phạm Văn T), đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án nêu trên.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí giải quyết theo hướng:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Nông Thị P ly hôn anh Phạm Văn T.
  • - Đề nghị tuyên quyền kháng cáo và án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chúng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; Ý kiến của kiểm sát viên; căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nông Thị P khởi kiện Ly hôn đối với bị đơn anh Phạm Ngọc T (Tên gọi khác Phạm Văn T). Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn G, xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai, Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai và quan hệ pháp luật là: Ly hôn.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nông Thị P, bị đơn anh Phạm Ngọc T (Tên gọi khác Phạm Văn T) đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của các đương sự, người làm chứng, xác minh tại chính quyền địa phương có đủ cơ sở xác định:

Chị Nông Thị P và anh Phạm Ngọc T (Tên gọi khác Phạm Văn T) tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 6 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tình trạng vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay. Chị P khởi kiện đề nghị được ly hôn với anh T, nhưng anh T không nhất trí ly hôn.

Mặc dù anh T không nhất trí ly hôn nhưng Hội đồng xét thấy nguyên đơn chị P và bị đơn anh T đều xác nhận vợ chồng sống ly thân từ năm 2022, thời gian ly thân đã lâu. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nông Thị P đối với anh Phạm Ngọc T (Tên gọi khác Phạm Văn T).

[4] Về con chung: Chị Nông Thị P và anh Phạm Ngọc T (Tên gọi khác Phạm Văn T) đều xác nhận vợ chồng không có con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là đúng pháp luật.

[5] Về tài sản và vay nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu, nên Tòa án không đề cập vấn đề giải quyết.

[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Nông Thị P phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

[7] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung và hướng giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 238; Khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nông Thị P:

    Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị P được ly hôn với anh Phạm Ngọc T (Tên gọi khác Phạm Văn T). Quan hệ hôn nhân giữa chị Nông Thị P và anh Phạm Ngọc T (Tên gọi khác Phạm Văn T), chấm dứt kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật.

  2. Về án phí: Chị Nông Thị P phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001453 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Chị Nông Thị P đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Anh Phạm Ngọc T (Tên gọi khác Phạm Văn T) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh LC (1);
  • - VKSND (2);
  • - Các đương sự (2);
  • - CCTHADS (1);
  • - UBND xã L, huyện V, tỉnh Lào Cai (1);
  • - Lưu HS, TP, TA (4).

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI về ly hôn

  • Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình giữa Nông Thị P - Phạm Ngọc T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger