Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 12-11-2024

“V/v tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản.

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Lê Phương

2. Ông Lê Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 19/2024/TLPT-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp nuôi con”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐ-PT ngày 30/10/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh T, sinh năm 1993. (có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn D, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Long Ẩ, sinh năm 1990. (có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • - Người kháng cáo: Anh Nguyễn Long Ẩ là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại Đơn khởi kiện ngày 27/02/2024, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Lê Thị Thanh T trình bày:

Vợ chồng chị cưới nhau vào năm 2020 đến năm 2022 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H. Việc cưới nhau là do hai bên tự nguyện, không bị ai ép buộc và được gia đình hai bên đồng ý. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do không hợp quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng không còn sống chung. Trong thời gian không sống chung thì vợ chồng cũng không liên lạc với nhau để bàn bạc, hàn gắn hạnh phúc. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và chị yêu cầu ly hôn với anh Ẩ.

Về con chung: Cháu Nguyễn Lê Tú A, sinh ngày 03/11/2021. Trước đây, con ở cùng với chị, nhưng sau khi chị nộp đơn khởi kiện xin ly hôn thì anh Ẩ xin dẫn con về chơi vài hôm rồi trả lại, nhưng anh Ẩ không trả mà giữ con luôn, trước đây cháu A ở với chị thì cháu không có biểu hiện bệnh gì, nay anh Ẩ bảo cháu bị bệnh là do lỗi của anh Ẩ, khi điều kiện, hoàn cảnh sống của cháu A thay đổi dẫn đến cháu có biểu hiện chậm nói, chậm nhận thức. Khi ly hôn, chị yêu cầu được quyền nuôi con, vì chị có công việc, thu nhập ổn định, con chung là bé gái, còn nhỏ nên cần có sự chăm sóc của người mẹ. Từ khi sinh con, cháu A ở với chị, anh Ẩ không có thu nhập, không chăm sóc con tốt bằng chị, nếu cháu A bị bệnh và đang được điều trị thì chị sẽ tiếp tục điều trị bệnh cho cháu để cháu phát triển bình thường như những đứa trẻ khác. Về cấp dưỡng nuôi con: chị không yêu cầu anh Ẩ cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa giải quyết.

* Tại bản tự khai và trong quá trình xét xử, bị đơn anh Nguyễn Long Ẩ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân và con chung thì anh xác định chị T trình bày đúng, anh bổ sung về mâu thuẫn của vợ chồng: Vợ chồng đã nhiều lần bỏ qua tất cả để hàn gắn nhưng không thành. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn và anh đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: Vợ chồng có con chung tên Nguyễn Lê Tú A, sinh ngày 03/11/2021. Khi ly hôn, anh yêu cầu được quyền nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Lý do anh Ẩ xin được nuôi con: Anh có công việc, thu nhập ổn định. Hiện nay con do anh Ẩ nuôi, anh chăm lo cho con tốt. Chị T đi làm thường xuyên phải để con cho ông bà ngoại nuôi dưỡng dẫn đến cháu A bị bệnh chậm nói, chậm nhận thức, nên cháu A đang được anh dẫn đi điều trị bệnh tại thành phố Hồ Chí Minh và tại trường dạy có chuyên môn về bệnh này, nếu giao cháu A cho chị T nuôi dưỡng thì cháu sẽ không được điều trị bệnh kịp thời. Đồng thời, hiện nay chị T đang sống chung với người đàn ông khác nên không có điều kiện tốt nhất để chăm sóc con.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi hòa giải không thành, ngày 23 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã đưa vụ án ra xét xử tại Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST, quyết định:

Căn cứ vào: Khoản 01 Điều 28, Điểm a Khoản 01 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 7 Điều 26, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

  • - Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Lê Thị Thanh T và anh Nguyễn Long Ẩ.
  • - Về con chung: Anh Nguyễn Long Ẩ có nghĩa vụ giao con chung tên Nguyễn Lê Tú A, sinh ngày 03/11/2021 cho chị Lê Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng.
  • - Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  • Anh Nguyễn Long Ẩ được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
  • - Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 01/8/2024, anh Nguyễn Long Ẩ kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng giao con chung cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị đơn anh Nguyễn Long Ẩ vẫn giữ nguyên kháng cáo. Anh cho rằng cháu Tú A đã được anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ tháng 3/2024 đến nay. Cháu có biểu hiện bệnh tự kỷ nên anh đang tích cực điều trị cho cháu. Nếu giao cháu cho chị T nuôi dưỡng thì chị T không có điều kiện tốt nhất để chăm sóc con và tại Tánh L cũng không có trung tâm chăm sóc, điều trị bệnh này.
  • - Nguyên đơn chị Lê Thị Thanh T không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Long Ẩ và trình bày bản thân chị đủ điều kiện đảm bảo cho việc nuôi dưỡng con.
  • - Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật; về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Long Ẩ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận về việc giải quyết vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Long Ẩ và chị Lê Thị Thanh T đã được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết cho ly hôn, nội dung này không có kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ giải quyết kháng cáo tranh chấp nuôi con.

[2] Anh Ẩ và chị T có con chung là cháu Nguyễn Lê Tú A, sinh ngày 03/11/2021. Anh Ẩ kháng cáo cho rằng chị T không trực tiếp nuôi con mà để cháu cho bà ngoại (mẹ chị T) nuôi, thiếu sự chăm sóc của mẹ nên cháu bị chậm nói, chậm phát triển nên cần giao cho anh trực tiếp nuôi dưỡng để tiếp tục điều trị bệnh cho cháu.

Xét thấy: thời điểm xét xử sơ thẩm (tháng 7/2024), cháu A chưa đủ 36 tháng tuổi, nên cấp sơ thẩm giao cháu A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Nay cháu A đã trên 36 tháng tuổi, việc giao con cho ai nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Khi mới sinh con được 03 tháng, do tính chất công việc nên chị T phải vào thành phố Hồ Chí Minh làm việc, cháu A ở với bà ngoại tại T, Bình Thuận. Đến năm 2024, chị T mới chuyển về huyện T làm. Từ tháng 3/2024 đến nay, cháu A do anh Ẩ nuôi. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Ẩ cung cấp kết quả đánh giá tâm lý ngày 11/11/2024 của Trung tâm nghiên cứu ứng dụng tâm lý và can thiệp sớm (trung tâm có địa chỉ tại thành phố P) thể hiện cháu A có biểu hiện rối loạn phổ tự kỷ, chậm phát triển. Hiện nay, cháu A thường xuyên được thăm khám, điều trị tại thành phố Hồ Chí Minh và tại thành phố P. Tại phiên tòa, anh Ẩ tha thiết được tiếp tục nuôi con để điều trị cho cháu, anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhưng anh cần sự hợp tác, hỗ trợ về tinh thần của chị T để cháu phát triển tốt hơn, anh không ngăn cản sự thăm nom con của chị T. Chị T đang sinh sống và làm việc tại huyện T mà ở đây không có trung tâm chuyên về chăm sóc và điều trị loại bệnh này. Nếu buộc anh Ẩ giao lại con cho chị T nuôi dưỡng sẽ gây xáo trộn, ảnh hưởng đến môi trường sống, sự giáo dục và sự phát triển bình thường của cháu. Anh Ẩ và chị T đã không thể sống chung cùng chăm sóc con thì khi ly hôn không nên vì tranh chấp giữa hai bên mà ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm, sinh lý của trẻ. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu A cho anh Ẩ tiếp tục nuôi dưỡng. Nếu sau này điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc con của anh Ẩ không được tốt hoặc khi cháu A lớn, cháu có nguyện vọng ở với mẹ thì chị T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Do đó, kháng cáo của anh Ẩ có cơ sở chấp nhận.

[3] Về yêu cầu cấp dưỡng cho con: Anh Nguyễn Long Ẩ trình bày do anh đủ khả năng kinh tế để nuôi dưỡng con chung nên anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng cho con. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[4] Do kháng cáo được chấp nhận nên anh Ẩ không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Tòa án cấp phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Long Ẩ, sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; điểm a, Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Giao cháu Nguyễn Lê Tú A, sinh ngày 03/11/2021 cho anh Nguyễn Long Ẩ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Lê Thị Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  2. Về án phí: Anh Nguyễn Long Ẩ không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm. Trả cho anh Ẩ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0013604 ngày 02/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (12/11/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TA, THA cấp huyện;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ HCTP - Tòa án tỉnh;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Quản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HNGĐ-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 22/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thanh T kiện Nguyễn Long A tranh chấp về ly hôn và nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger