|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE Bản án số: 22/2024/HNGĐ-PT Ngày: 11 - 7 - 2024 "Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Văn Ngọt |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Văn Tỉnh |
| Ông Tôn Văn Thông |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Phương Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Công Có - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2024/TLPT-HNGĐ ngày 14/6/2024 về “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 32/2024/HNGĐ-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2238/2024/QĐ-PT ngày 24/6/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1990.
- Địa chỉ: Số nhà C, ấp P, xã H, huyện C, Tỉnh Bến Tre.
- Người đại diện theo ủy quyền của chị N: Anh Nguyễn Vũ B, sinh năm: 1977.
- Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- - Bị đơn: Anh Dương Quốc D, sinh năm 1983.
- Địa chỉ: Số nhà C, ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- - Người kháng cáo: Bị đơn anh Dương Quốc D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Vũ B trình bày:
Trước đây vào ngày 14/01/2022, chị N và anh D có lập văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Văn bản thỏa thuận được công chứng, chứng thực tại văn phòng C vào ngày 14/01/2022. Chị N và anh D thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau: Quyền sử dụng đất thuộc thửa 21, tờ bản đồ số 01, diện tích 209,7m² chia cho anh Dương Quốc D. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ thửa đất này sau khi chia là tài sản riêng của ông Dương Quốc D. Số tiền mặt 500.000.000 đồng và quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 26, tờ bản đồ số 26, diện tích 342,7 m² chia cho chị Nguyễn Thị Kim N. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ thửa đất này sau khi chia là tài sản riêng của chị Nguyễn Thị Kim N. Chị N đồng ý để anh D sở hữu phần đất thuộc thửa 21, tờ bản đồ số 01 nêu trên. Anh D có trách nhiệm giao cho chị N số tiền là 500.000.000 đồng là giá trị chênh lệch chia tài sản chung của vợ chồng đối với 02 phần đất nêu trên. Hai bên đã ký văn bản thỏa thuận tại Văn phòng C. Sau khi ký văn bản thỏa thuận chia tài sản anh D giao trước cho chị N số tiền là 200.000.000 đồng tại văn phòng công chứng. Còn lại 300.000.000 đồng hai bên thỏa thuận trong vòng 03 tháng kể từ ngày 14/01/2022 anh D sẽ giao cho chị N số tiền còn lại là 300.000.000 đồng. Sau đó, chị N có lấy hàng của anh D để buôn bán, số tiền hàng là 142.000.000 đồng và số tiền này chị N đồng ý khấu trừ vào tiền anh D hứa sẽ giao cho chị N sau đó là 300.000.000 đồng. Nay anh D còn nợ chị N số tiền 158.000.000 đồng. Chị N đã nhiều lần yêu cầu anh D giao cho chị số tiền là 158.000.000 đồng nhưng anh D không giao. Nay chị N khởi kiện yêu cầu anh D giao cho chị N số tiền 158.000.000 đồng theo văn bản thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân vào ngày 14/01/2022. Chị N không yêu cầu tính lãi số tiền trên. Căn cứ để chị N khởi kiện là văn bản thỏa thuận phân chia tài sản ngày 14/01/2022, ngoài ra không còn tài liệu chứng cứ nào khác.
Theo bản tự khai, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Dương Quốc D trình bày:
Anh D thừa nhận anh có ký tên vào văn bản thỏa thuận vào ngày 14/01/2022 về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, anh đồng ý giao lại cho chị N số tiền 500.000.000 đồng theo như văn bản thỏa thuận là không phải phân chia tài sản chung của vợ chồng mà anh đồng ý đưa cho chị N số tiền trên là để nuôi con. Nhưng vì khi ký tên vào văn bản thỏa thuận anh sơ xuất nên không có đọc lại nội dung trong văn bản thỏa thuận. Do đó, nội dụng ghi trong văn bản thỏa thuận không đúng với nội dung mà anh và chị N đã thỏa thuận là giao 500.000.000 đồng để chị N làm ăn để nuôi con. Theo anh D thì trước đây anh và chị N thỏa thuận ly hôn con chung theo ai người đó nuôi và không phải cấp dưỡng nuôi con. Hai con chung có nguyện vọng sống với chị N nên anh D đồng ý để chị N nuôi con. Sau khi ly hôn con anh có xin tiền nên anh mới đồng ý đưa chị N 500.000.000 đồng để nuôi con. Anh D đưa trước cho chị N số tiền là 200.000.000 đồng, thỏa thuận 300.000.000 đồng anh sẽ đưa sau 03 tháng kể từ ngày ký văn bản thỏa thuận. Tuy nhiên, sau đó chị N có năn nỉ anh giao hàng để chị bán, anh đã giao cho chị N 03 lần hàng là thức ăn, dụng cụ để nuôi chim cảnh với số tiền khoảng 146.000.000 - 148.000.000 đồng. Việc giao nhận hàng này anh D ghi sổ theo dõi chứ chị N không có ký tên gì. Nay chị N cho rằng chỉ lấy hàng của anh khoảng 142.000.000 đồng thì anh cũng không có khiếu nại gì. Anh thừa nhận sau khi khấu trừ vào số tiền hàng mà chị N đã lấy của anh thì hiện nay anh còn nợ lại số tiền khoảng 152.000.000 đồng - 154.000.000 đồng triệu là chưa giao chị N theo văn bản thỏa thuận ngày 14/01/2022. Nay anh D không đồng ý tiếp tục giao số tiền này cho chị N vì chị N hiện nay không có nuôi 02 con chung, 02 con đã về sống với anh D.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 32/2024/HNGĐ-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành quyết định:
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 92, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim N. Buộc anh Dương Quốc D giao cho chị Nguyễn Thị Kim N số tiền là 158.000.000 (Một trăm năm mươi tám triệu) đồng. Ghi nhận chị N không yêu cầu tính lãi số tiền trên.
Kể từ ngày bản án có luật hiệu lực, ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra, Tòa cấp sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04 tháng 5 năm 2024, bị đơn anh Dương Quốc D kháng cáo bản án sơ thẩm, anh D không đồng ý trả cho chị N số tiền 158.000.000 (Một trăm năm mươi tám triệu) đồng.
Tại phiên Tòa phúc thẩm: Anh Dương Quốc D giữ nguyên kháng cáo. Người đại diện theo ủy quyền của chị N không đồng ý kháng cáo của anh D và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, tuyên xử theo hướng không chấp nhận kháng cáo của anh Dương Quốc D; giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 32/2024/HNGĐ-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của anh Dương Quốc D; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Dương Quốc D kháng cáo và gửi thủ tục kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
- [1] Xét kháng cáo của anh Dương Quốc D:
- [1.1] Xét thấy, tại văn bản thỏa thuận của các đương sự được ký vào ngày 14/01/2024 tại Văn phòng C thì anh Dương Quốc D và chị Nguyễn Thị Kim N có thỏa thuận về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, cụ thể là anh D được sở hữu quyền sử dụng đất thuộc thửa 21, tờ bản đồ số 01, diện tích 209,7m²; chị N được chia số tiền mặt 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng và quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 26, tờ bản đồ số 26, diện tích 342,7m². Hai bên đã ký xác nhận và có công chứng chứng thực hợp pháp. Quá trình tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm có thông báo yêu cầu anh D và chị N cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh về số tài sản đang tranh chấp; chị N cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm văn bản thỏa thuận giữa chị và anh D về phân chia tài sản chung được 02 bên ký xác nhận và công chứng; anh D thì không có giao nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh.
- [1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh D thừa nhận còn nợ lại số tiền 158.000.000 (Một trăm năm mươi tám triệu) đồng là chưa giao cho chị N, anh cho rằng số tiền này là anh cho chị N làm ăn để nuôi 02 con chung vì 02 cháu chọn sống chung với chị N sau khi ly hôn mà hiện nay 02 cháu đã về sống với anh nên anh không đồng ý giao số tiền này cho chị N. Xét thấy, anh D không có chứng cứ chứng minh số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng là anh cho chị N để nuôi con; 03 lần anh giao hàng cho chị N anh có ghi lại nhưng không có chữ ký xác nhận của chị N và anh D cũng không có khiếu nại về sự sai lệch số tiền hàng chị N đã khai báo. Mặt khác, chị N có chứng cứ chứng minh được số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng là do 02 bên thỏa thuận phân chia tài sản chung của 2 vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và anh D đã trả trước 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng, phần còn lại sau khi đã trừ tiền hàng anh D giao cho chị N, hiện tại còn lại 158.000.000 (Một trăm năm mươi tám triệu) đồng nên chị N yêu cầu anh D trả cho chị số tiền này là có cơ sở để chấp nhận.
- [1.3] Từ những phân tích trên, nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N là có căn cứ. Anh D kháng cáo nhưng không có chứng cứ mới chứng minh tại phiên tòa phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của anh D; Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 32/2024/HNGĐ-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành là phù hợp.
- [2] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- [3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn anh Dương Quốc D phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của anh Dương Quốc D;
Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 92, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim N. Buộc anh Dương Quốc D giao cho chị Nguyễn Thị Kim N số tiền là 158.000.000 (Một trăm năm mươi tám triệu) đồng. Ghi nhận chị N không yêu cầu tính lãi số tiền trên.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí sơ thẩm có giá ngạch:
- Anh Dương Quốc D phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch là 7.900.000 (Bảy triệu chín trăm nghìn đồng).
- Chị Nguyễn Thị Kim N được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.950.000 (Ba triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001637 ngày 28/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
- Án phí phúc thẩm: Anh Dương Quốc D phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000454 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Anh D đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án số 22/2024/HNGĐ-PT ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
