Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 05-8-2024

Về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Dũng

Các Thẩm phán: Ông Trần Trọng Nhân

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khải - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/TLPT-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”

Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 19/2024/HNGĐ-ST, ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 13/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Ngô Thị Kiều L, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.

- Bị đơn: anh Nguyễn Trí P, sinh năm 1981; địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: anh Nguyễn Trí P, bị đơn.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Ngô Thị Kiều L trình bày: chị và anh P tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 26/10/2009. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên từ năm 2011 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn và thường xuyên bất đồng trong quan điểm sống nên hai người không còn quan tâm lẫn nhau nữa. Mặc dù, vợ chồng đã nhiều lần trao đổi để hàn gắn tình cảm nhưng không mang lại kết quả. Nay, nhận thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Trí P.

Về nuôi con chung: chị và anh Nguyễn Trí P có 02 con chung là Nguyễn Kiều Gia H, sinh ngày 06/10/2010 và Nguyễn Kiều Gia Y, sinh ngày 05/4/2017. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu cấp dưỡng, nhưng nếu anh P tự nguyện cấp dưỡng nuôi con thì chị vẫn đồng ý.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Trí P trình bày: anh thống nhất với lời trình bày của chị L về thời gian chung sống, kết hôn, con chung. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, anh làm nghề điện nhận từ các công trình nên thường xuyên phải đi làm xa, lúc về nhà thì đôi khi có đi nhậu do anh em hoặc đi đám nhưng anh vẫn quan tâm vợ con, phụ việc nhà, rảnh thì anh vẫn chở con đi chơi, cũng có đem tiền về cho vợ, những lúc cãi nhau thì cũng có nặng lời. Nay chị L kiên quyết xin ly hôn nên anh đồng ý.

Về nuôi con chung: anh và chị Ngô Thị Kiều L có 02 con chung là Nguyễn Kiều Gia H, sinh ngày 06/10/2010 và Nguyễn Kiều Gia Y, sinh ngày 05/4/2017. Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Kiều Gia Y và giao cháu Nguyễn Kiều Gia H cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đã xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Kiều L. Cho chị Ngô Thị Kiều L ly hôn với anh Nguyễn Trí P.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Kiều Gia H, sinh ngày 06/10/2010 và Nguyễn Kiều Gia Y, sinh ngày 05/4/2017. Giao 02 con chung chưa thành niên Nguyễn Kiều Gia H và Nguyễn Kiều Gia Y cho chị Ngô Thị Kiều L trực tiếp nuôi dưỡng. Hàng tháng anh Nguyễn Trí P có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con chung số tiền 900.000 đồng/tháng (bằng ½ mức lương cơ bản nhà nước quy định tại thời điểm cấp dưỡng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con được quyền yêu cầu hạn chế quyền thăm nom nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom làm ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con chung, các bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: bà Ngô Thị Kiều L và ông Nguyễn Trí P không đặt ra giải quyết nên không xem xét.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 27 tháng 3 năm 2024, anh Nguyễn Trí P kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử giao con chung là Nguyễn Kiều Gia Y, sinh ngày 05/4/2017 cho anh trực tiếp nuôi dưỡng và các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Bị đơn anh Nguyễn Trí P cho rằng hiện nay cháu Nguyễn Kiều Gia Y đang được anh trực tiếp nuôi dưỡng chu đáo và phát triển tốt. Để đảm bảo cho sự phát triển và tránh xáo trộn cuộc sống của cháu, anh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh, sửa 01 phần bản án sơ thẩm về phần con chung.

Nguyên đơn chị Ngô Thị Kiều L cho rằng về điều kiện nuôi dưỡng con chung thì chị tốt hơn anh P. Vì vậy, chị đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa có ý kiến nhận xét về thủ tục giải quyết vụ án đã đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung tranh chấp: bị đơn anh Nguyễn Trí P đề nghị giao con chung là cháu Nguyễn Kiều Gia Y sinh năm 2017 cho anh nuôi dưỡng vì cho rằng mức thu nhập của anh P (15.000.000 đồng) cao hơn mức thu nhập của chị L (7.500.000 đồng), có nơi ở sau ly hôn, đảm bảo tốt được việc chăm lo học hành khi nhận nuôi con.

Xét nội dung kháng cáo của bị đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy: về điều kiện kinh tế, anh P, chị L đều có công việc, thu nhập ổn định để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nhưng thực tế hiện nay thì anh P có điều kiện hơn (anh P có thu nhập cao hơn, có cha mẹ anh P hỗ trợ trong việc chăm sóc 02 cháu H và Y).

Tại phiên tòa phúc thẩm, chị L và anh P trình bày 02 bên chưa thống nhất về việc quản lý sử dụng tài sản chung, chị L xác định nếu anh P đồng ý để cho chị nuôi 02 con chung thì chị L đồng ý giao nhà cho anh P quản lý sử dụng, chị nhận giá trị ½ tài sản chung này để tìm nơi ở khác; anh P trình bày, từ sau khi ly hôn đến nay thì 02 con chung chủ yếu do anh P và cha mẹ anh P chăm sóc nuôi dưỡng, đưa rước đi học, chu cấp đóng tiền cho con đi học thêm,...

Thấy rằng, như chị L trình bày thì hiện nay chị L chưa có nơi ở ổn định, trong khi thu nhập của chị L thấp hơn của anh P, nếu giao 02 con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo sự chăm sóc đầy đủ cho con trong sinh hoạt đời sống cũng như trong việc học tập. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh P là giao cháu Gia Y cho anh P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Trí P, sửa một phần bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

  1. Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Trí P thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, chị L và anh P đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Đây là yêu cầu chính đáng của các bên đương sự. Chị L và anh P đều có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên cả hai đều có đủ điều kiện chăm sóc con chung.
  3. Chị L hiện đang làm công nhân may, thời gian làm việc từ 07 giờ sáng đến 18 giờ chiều, còn anh P làm nghề điện nhận thầu các công trình, thời gian làm việc tuy có sự chủ động hơn chị L nhưng cả chị L và anh P nếu được giao trực tiếp nuôi con thì vẫn cần phải có sự hỗ trợ của gia đình trong việc chăm nom, đưa đón các cháu đi học,...
  4. Thực tế, trong thời gian qua và hiện nay cháu Y đã được anh P chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo, phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần. Trong đơn kháng cáo của anh P có ý kiến trình bày của cha anh P là ông Nguyễn Trí H1 và mẹ là bà Võ Thị Đ tự nguyện cam kết hỗ trợ anh P trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, đưa đón đi học... nếu như được Tòa án giao cháu Y cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, xét về điều kiện của anh P cùng với sự hỗ trợ của gia đình thì việc tiếp tục giao cho anh P được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, cháu Y là phù hợp, cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh P về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là cháu Y.
  5. Về cấp dưỡng nuôi con: tại phiên tòa phúc thẩm, chị L và anh P đều không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đồng thời mỗi người được giao trực tiếp nuôi một người con đã đảm bảo cuộc sống của các cháu nên không buộc bên nào thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có một bên khó khăn thì vì quyền lợi của con chung, các bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.
  6. Về án phí phúc thẩm: anh P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  7. Lời phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh P, sửa một phần bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về phần con chung là có căn cứ.
  8. Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Trí P;

Sửa một phần bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 28, 37, 39, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về nuôi con chung: giao con chung là Nguyễn Kiều Gia Y, sinh ngày 05/4/2017 cho anh Nguyễn Trí PNguyễn Kiều Gia H, sinh ngày 06/10/2010 cho chị Ngô Thị Kiều L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Anh P, chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét.

    Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con thực hiện theo quy định tại các Điều 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

  2. Về án phí phúc thẩm: anh Nguyễn Trí P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho anh P 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng số 0008290 ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
  3. Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - VKSND tỉnh Long An (1);
  • - TAND huyện Thủ Thừa (1);
  • - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa (1);
  • - Các đương sự (để thi hành) (2);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quốc Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HNGĐ-PT ngày 05/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 22/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Kiều Linh “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” Nguyễn Trí Phước
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger