Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 22/2024/HCST

Ngày: 06 - 9 - 2024

“Về việc khiếu kiện QĐHC

trong lĩnh vực quản lý đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.
  • - Hội thẩm nhân dân: ông Trần Xuân Thành,
  • Bà Bùi Thị Hoa.

Thư ký phiên toà: Bà Đậu Thị Bích Thủy – Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 tháng 8 và ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 63/2023/TLST - HC ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc khiếu kiện “yêu cầu hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Người khởi kiện: bà Ngô Thị N, sinh năm 1965; địa chỉ: xóm L xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: ông Mai Sỹ L – Luật sư Văn phòng L2 và cộng sự; địa chỉ: địa chỉ: phòng C, nhà C, xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; có mặt ngày 15/8/2024, vắng mặt ngày 06/9/2024.
  • - Người bị kiện: Ủy ban nhân dân tỉnh N; địa chỉ: số C đường T, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An;
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T – Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn Đ - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; vắng mặt; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • + Tập đoàn B (viết tắt: V); địa chỉ: tòa nhà V, số E phố H, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quang L1 – Tổng giám đốc, Tập đoàn B; vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền: ông Mai Xuân T1 – Thanh tra trực thuộc Tập đoàn V; ông Nguyễn Thanh S – Phó phòng B; ông S có mặt, ông T1 vắng mặt.
  • + Viễn thông Nghệ An - Chi nhánh Tập đoàn B tại Nghệ An (viết tắt: V); địa chỉ: số B, đường T, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An;
  • Người đại diện theo pháp luật: bà Hồ Thị Thùy T2 – Giám đốc V; vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thanh S – Phó phòng Kỹ thuật – Đầu tư trực thuộc V;
  • + Ủy ban nhân dân phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An; địa chỉ: số D đường Đ, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An;
  • Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Cao C – Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L; vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Xuân H – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường; có mặt ngày 15/8/2024, vắng mặt ngày 06/9/2024.
  • + Ông Trần Văn H1, sinh năm 1960; địa chỉ: xóm L xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền: bà Ngô Thị N, sinh năm 1965; địa chỉ: xóm L xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/4/2023 và quá trình giải quyết vụ kiện, người khởi kiện - bà Ngô Thị N và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N, trình bày:

Bà Ngô Thị N nguyên là cán bộ, công nhân viên của Đài viễn B thuộc Tập đoàn B chi nhánh N (V) có địa chỉ: số A, Đinh Công T3, thành phố V, tỉnh Nghệ An nay đã nghỉ hưu. Vào khoảng năm 1989, cạnh cơ quan Đài Viễn thông N, Đinh Công T3, thành phố V có một dãy nhà tập thể đã xuống cấp, được xây dựng trước năm 1980 không rõ là của cơ quan nào để lại nhưng họ đã chuyển đi. Do bà chưa có nhà ở nên lãnh đạo đơn vị, Tổng Công ty thời điểm đó đã bố trí phân cho bà một gian nhà để ở và gia đình bà N đã sinh sống ổn định từ năm 1989 cho đến nay. Quá trình sử dụng, vợ chồng bà đã cải tạo nâng cấp, xây mới một số hạng mục để phù hợp với nhu cầu sử dụng của gia đình và chính quyền địa phương không ai có ý kiến gì.

Sau khi bà N được phân nhà ở thì cơ quan Đài Viễn thông B đã xây tường bao tách biệt khu nhà ở tập thể với văn phòng làm việc của cơ quan và hai bên có lối đi riêng. Việc bố trí nhà ở cho bà N có sự đồng thuận của các cấp chính quyền nên một thời gian sau thì Nhà nước đã quy hoạch khu nhà ở tập thể là đất ở và thể hiện trong hồ sơ địa chính là thửa đất số 263 tờ bản đồ số 08 diện tích là 1080,5m² tại khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Tên chủ sử dụng là khu tập thể Đài Viễn thông, mục đích sử dụng: Đất thổ cư. Còn khu đất cơ quan Đài Viễn thông Nghệ An là thửa đất số 264, tờ bản đồ số 08 diện tích 2147,50m², tên chủ sử dụng Đài viễn thông V, mục đích sử dụng: Đất chuyên dùng. Như vậy từ năm 1989, sau khi đã phân nhà ở cho cán bộ, công nhân viên thì B không còn quản lý sử dụng khu đất đó mà việc quản lý sử dụng đất là của các hộ dân.

Ngày 31/05/2022, bà N được đại diện V là ông Hồ Anh T4, chức vụ: Phó Giám đốc mời họp. Theo nội dung cuộc họp thì V thông báo cho bà biết: Khu đất tại địa chỉ A Đ, tức thửa đất số 263 tờ bản đồ số 08 diện tích là 1080,5m² tại khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An được Ủy ban nhân dân tỉnh N ra quyết định số 452/QĐ- UBND ngày 26/10/2020 cho V thuê. Ngày 08/02/2021 V được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CX 268265 nên đề nghị bà N phải di dời trả lại đất cho V.

Sau cuộc họp ngày 31/05/2022, thì bà N mới biết được các quyết định nêu trên của Ủy ban nhân dân tỉnh N và thấy rằng các quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi chính đáng của gia đình bà. Gia đình bà đã sử dụng nhà đất ổn định hơn 30 năm, không tranh chấp, phù hợp quy hoạch khu dân cư nên theo quy định tại Điều 101 Luật đất đai năm 2013 thì bà N mới là người sử dụng đất hợp pháp và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không phải V. Khi bà N được phân nhà ở tập thể thì dãy nhà tập thể đó là của cơ khác xây dựng từ trước năm 1980, sau đó thì B phân cho bà N sử dụng vào mục đích nhà ở. Tuy nhiên sau này bà N tìm hiểu thì B cũng không được Nhà nước giao cho khu đất đó nên không phải nộp thuế sử dụng đất.

Căn cứ vào Điều 53 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất theo quy định của luật này và phải thực hiện xong việc bồi thường, hộ trợ tái định cư theo quy định của pháp luật đối với trường hợp phải giải phóng mặt bằng”. Đối chiếu với quy định này thì Ủy ban nhân dân tỉnh N đã có Quyết định số 452/QĐ- UBND ngày 26/10/2020 là trái pháp luật.

Nay bà Ngô Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định số 452/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh N và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CX 268265 đề ngày 08/02/2021 do Ủy ban nhân dân tỉnh N cấp cho Viễn thông Nghệ An – Chi nhánh Tập đoàn B tại Nghệ An được sử dụng thửa đất số 263 tờ bản đồ số 08 diện tích là 1080,5m² tại khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

  • * Ông Mai Xuân T1 và ông Nguyễn Thanh S là người đại diện theo ủy quyền của VNPT thống nhất trình bày:

Về nguồn gốc sử dụng đất, quá trình sử dụng và tình trạng tranh chấp thửa đất 263, tờ bản đồ số 8 tại số A đường Đ, khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An trước đây được giao cho Bưu điện tỉnh N sử dụng từ năm 1983 (Bưu điện và Viễn thông chưa chia tách), là khu tập thể của Công ty V1 liên tỉnh một đơn vị trực thuộc Tập đoàn B (Tập đoàn V).

Thực hiện theo hướng dẫn tại Quyết định 81/2014/QĐ-UBND ngày 27/10/2014 của UBND tỉnh N ban hành Quy định về trình tự, thủ tục rà soát, kê khai hiện trạng sử dụng đất; đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các tổ chức trong nước đang sử dụng đất nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Thửa đất được kê khai hiện trạng sử dụng nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước tại Tờ khai ngày 27/3/2015 có xác nhận của chính quyền địa phương; Bộ T6 chấp thuận sắp xếp theo quy định của Quyết định 09/2007/QĐ-TTg tại Văn bản số 13319/BTC-QLCS ngày 22/9/2016; UBND tỉnh N chấp thuận tại Văn bản số 3944/UBND-KT ngày 16/6/2016.

V đã tiến hành làm các thủ tục thuê đất theo hướng dẫn của các quy định hiện hành. Vì vậy, Quyết định số 452/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh N cho V thuê đất tại phường L là đúng quy định. Việc của một số cán bộ công nhân viên được bố trí mượn nhà tập thể thuộc sở hữu Nhà nước để ở, vẫn không trả lại mặt bằng, lại tổ chức khiếu kiện để bảo vệ lợi ích của mình, cụ thể yêu cầu được đền bù đất là không phù hợp theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An bác đơn khởi kiện của người khởi kiện.

  • * Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh N trình bày:
  • - Nguồn gốc khu đất Viễn thông N – Chi nhánh Tập đoàn B được Ủy ban nhân dân tỉnh N cho phép Bưu điện N1 (Khi Bưu điện và Viễn thông chưa chia tách) được sử dụng đất để xây dựng trạm thông tin, vô tuyến truyền hình tại Quyết định số 143/QĐ/UB ngày 01/02/1983.
  • - Theo Bản đồ đo đạc năm 1993, thửa đất số 155, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.094 m², chủ sử dụng theo Sổ mục kê năm 1993 là Trạm vi ba, mục đích sử dụng là nhà ở tập thể Viba;
  • - Theo Bản đồ đo đạc năm 1999, hồ sơ kĩ thuật lập năm 1999 thì thửa đất số sử dụng đất là thổ 263, tờ bản đồ số 08 có chủ sử dụng đất là Khu tập thể Đ, mục đích sử dụng: thổ cư;
  • - Theo báo cáo rà soát hiện trạng sử dụng đất số 1995/BC ngày 03/9/2020 do Viễn thông Nghệ An lập thì thửa đất nêu trên được Nhà nước giao cho Bưu điện N sử dụng từ năm 1983 (trước đây Bưu điện và Viễn thông chưa chia tách). Thực hiện các Quyết định số: 06/2006/QĐ-TTg ngày 09/01/2006 và số 265/2006/QĐ-TTg ngày 17/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ thì Viễn thông Nghệ An được quản lý, sử dụng khu đất trên để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình viễn thông.
  • - Ngày 17/9/2020, Văn phòng Đ1 kiểm tra hiện trạng để làm thủ tục cho V thuê đất thì thửa đất số 263 sử dụng mục đích nhà ở công vụ cho cán bộ tuần tra cáp quang (trên đất có 2 dãy nhà cấp 4), tại thời điểm kiểm tra không có tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến thửa đất, xung quanh có tường xây cố định, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 thành phố V.
  • - Ngày 26/10/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh N đã ban hành Quyết định 452/QĐ- UBND cho V thuê đất tại A Đ phường L V hiện đã được Ủy ban nhân dân tỉnh N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 268265 thể hiện tại thửa đất số 263, tờ bản đồ 08, diện tích 1.080,5m² vào ngày 08/02/2021.
  • - Năm 2022, UBND phường L nhận được đơn kiến nghị của các ông (bà): Ngô Thị N, Nguyễn Quang H2, Trần Minh T5, Nguyễn Huy H3 phản ánh về việc Tập đoàn B – chi nhánh N yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản ra khỏi khu đất.
  • Quá trình giải quyết tranh chấp các hộ dân hiện đang sinh sống tại khu đất 125 đường Đ không cung cấp được bất cứ giấy tờ tài liệu chứng minh việc các hộ dân này được Bưu chính Viễn thông B thanh lý, hóa giá các gian nhà tập thể.
  • Về cơ sở Ủy ban nhân dân tỉnh N ban hành Quyết định 452/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 268265 ngày 08/02/2021: căn cứ vào nguồn gốc, quá trình sử dụng đất; phương án sắp xếp lại, xử lý các cơ sở nhà, đất của VNPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An; Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất năm đầu điều chỉnh của thành phố V được UBND tỉnh phê duyệt; và quy định pháp luật hiện hành, cho thấy có đủ căn cứ, điều kiện để Ủy ban nhân dân tỉnh N cho V – Chi nhánh Tập đoàn B tại Nghệ An thuê đất tại A Đ phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
  • Việc Ủy ban nhân dân tỉnh C thuê đất tại thửa 263, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.080,5 m² tại khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An tại Quyết định số 452/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CX 268265 ngày 08/02/2021 cấp cho Viễn thông Nghệ An - Chi nhánh Tập Đoàn B tại Nghệ An là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên Quyết định số 452/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 của UBND tỉnh N cho Viễn thông B – Chi nhánh Tập đoàn B tại Nghệ An thuê đất tại thửa 263, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.080,5m2 tại khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An và giữ nguyên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CX 268265 ngày 08/02/2021 cấp cho Viễn thông Nghệ An – Chi nhánh Tập Đoàn B tại Nghệ An. Đồng thời bác đơn khởi kiện của nguyên đơn theo quy định pháp luật.
  • * Sở T7 – là người được Ủy ban nhân dân tỉnh N ủy quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CX 268265 ngày 08/02/2021 cấp cho Viễn thông Nghệ An - Chi nhánh Tập Đoàn B tại Nghệ An trình bày tại Công văn số 5485/STNMT-QLĐĐ ngày 07/8/2024:

Căn cứ nguồn gốc sử dụng đất, Quyết định giao đất số 143/QĐ-UB ngày 01/02/1983 của UBND tỉnh N cho phép Bưu điện N1 được phép xây dựng đài trạm thông tin vô tuyến truyền hình và bản đồ địa chính qua các thời kỳ thể hiện thửa đất 263, tờ bản đồ số 8 là đất trạm ViBa và khu tập thể Đài Viễn thông. Theo Công văn số 13319/BTC-QLCS về phương án sáp xếp lại, xử lý các cơ sở nhà, đất của VNPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An, trong đó có khu đất số A đường Đ. Theo Quyết định số 94/QĐ-VNPT-HĐTV-KHĐT ngày 13/7/2020 của Tập đoàn B về việc chuyển giao cơ sở nhà đất thì khu đất nói trên được chuyển giao cho Chi nhánh V được quyền quản lý, sử dụng. Do đó, UBND tỉnh N đã giao đất cho Viễn thông Nghệ An – Chi nhánh tập đoàn B, Viễn thông tại Nghệ An là đúng quy định.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 60 Luật đất đai năm 2013 thì Chi nhánh V phải chuyển sang hình thức thuê đất. UBND tỉnh N cho thuê đất tại thửa đất 263, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.080,5m² tại khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An được thực hiện theo quy trình tại Điều 25 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ; Quyết định số 81/2014/QĐ-UBND ngày 27/10/2014 và Quyết định số 32/2019/QĐ-UBND ngày 19/8/2019 của UBND tỉnh N mà không thực hiện thủ tục thu hồi đất đối với thửa đất là đúng quy định.

Quá trình đối thoại, các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.

Tại phiên tòa người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tại phiên tòa ngày 06/9/2024, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện vắng mặt nhưng có bản luận cứ trình bày các căn cứ của việc khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Ngô Thị N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán phụ trách giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thụ lý vụ án, tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, đối thoại, tiếp cận công khai chứng cứ và thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng. Người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện và chấp hành quyền nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật. Đương sự vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, đề nghị Tòa án xét xử theo quy định tại Điều 157, Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Bà Ngô Thị N khởi kiện cho rằng gia đình ông đã sử dụng đất không có tranh chấp hơn 30 năm và phù hợp quy hoạch khu dân cư thì gia đình bà N mới là người sử dụng đất hợp pháp và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không có tài liệu chứng cứ để chứng minh quyền và lợi ích của mình là có căn cứ và hợp pháp nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của bà N.

Tuy nhiên, việc Ủy ban nhân dân tỉnh N ban hành Quyết định cho thuê đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Chi nhánh của Tập đoàn B là không đúng đối tượng sử dụng đất mà phải cho thuê đất và cấp Giấy chứng nhận cho Tập đoàn B nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị N hủy Quyết định số 452/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh N và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh N cấp cho Viễn thông Nghệ An.

Căn cứ: khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 5, 53, Điều 60 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai năm 2013, Quyết định số 81/2014/QĐ-UBND ngày 27/10/2014; Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị N về yêu cầu hủy Quyết định số 452/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 của UBND tỉnh N và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh N cấp cho Viễn thông Nghệ An – Chi nhánh Tập đoàn B tại Nghệ An số phát hành CX 268265 ngày 08/02/2021 được sử dụng thửa đất số 263 tờ bản đồ số 08 diện tích là 1080,5m² tại khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Buộc UBND tỉnh N thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định. Về án phí: Người bị kiện chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, các quy định pháp luật hiện hành. Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ, mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, đối thoại và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục của Luật Tố tụng hành chính quy định. Đương sự vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 158 Luật tố tụng hành chính.

[2] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:

Quyết định số 452/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 (sau đây viết tắt là Quyết định 452) của Ủy ban nhân dân tỉnh tỉnh N và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh N cấp cho Viễn thông Nghệ An – Chi nhánh Tập đoàn B tại Nghệ An (sau đây viết tắt là V) số phát hành CX 268265 đề ngày 08/02/2021 (sau đây viết tắt là giấy CNQSDĐ số CX 268265) được sử dụng thửa đất số 263 tờ bản đồ số 08 diện tích là 1.080,5m² tại khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An là các quyết định hành chính do người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ban hành trong lĩnh vực quản lý đất đai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 31/5/2022 biết được Quyết định số 452 của UBND tỉnh N và giấy CNQSDĐ số CX 268265 cấp cho V được sử dụng thửa đất số 263 tờ bản đồ số 08 diện tích là 1.080,5m² tại khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Ngày 17/4/2023, bà Ngô Thị N gửi đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An hủy Quyết định số 452 và giấy CNQSDĐ số CX 268265 là trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[4] Về trình tự thủ tục và thẩm quyền ban hành Quyết định số 452 và giấy CNQSDĐ số CX 268265: Sau khi nhận được đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và các tài liệu kèm theo của V, Ủy ban nhân dân tỉnh N đã giao cho Sở T7 kiểm tra nguồn gốc sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất, kiểm tra thực địa về tình hình biến động đất đai, công khai việc các chủ sử dụng đất liền kề chưa ký xác nhận vào bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất. Trên cơ sở đề nghị của Sở T7 tại Công văn số 4960/STNMT-QLĐĐ ngày 28/9/2020 về việc cho V thuê đất tại phường L, thành phố V. Ủy ban nhân dân tỉnh N đã ban hành Quyết định số 452/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 về việc cho V thuê đất tại phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Trên cơ sở Quyết định 452, ngày 20/01/2021 Ủy ban nhân dân tỉnh N đã ký hợp đồng cho V thuê 3.253,9m² đất tại phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Ngày 08/02/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh N đã cấp giấy CNQSDĐ số CX 268265 đối với thửa đất số 263, tờ bản đồ số 8 tại phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An cho V với mục đích sử dụng là đất công trình bưu chính viễn thông là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành theo quy định tại Điều 60 Luật Đất đai năm 2013; Điều 25 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và các quy định tại Quyết định số 81/2014/QĐ-UBND ngày 27/10/2014 và Quyết định số 32/2019/QĐ-UBND ngày 19/8/2019 của UBND tỉnh N.

[5] Về nội dung Quyết định số 452 và giấy CNQSDĐ số CX 268265: Điều 1 Quyết định số 452: “Cho Viễn thông Nghệ An – Chi nhánh Tập đoàn B tại Nghệ An thuê 3.253,9m² (thửa đất 263 và 264, tờ bản đồ địa chính số 8) tại phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An để sử dụng vào mục đích đất Công trình Bưu chính, viễn thông (xây dựng công trình viễn thông); thời hạn thuê đất đến 15/10/2043; hình thức sử dụng đất: Nhà nước cho thuê trả tiền hàng năm. Xét thấy:

Về hồ sơ quản lý đất:

  • - Nguồn gốc thửa đất số 263, tờ bản đồ số 8 được Ủy ban nhân dân tỉnh N cho phép Bưu điện N1 được sử dụng đất để xây dựng trạm thông tin, vô tuyên truyền hình tại Quyết định số 143/QĐ/UB ngày 01/02/1983.
  • - Theo Bản đồ đo đạc năm 1993, là thửa đất số 155, tờ bản đồ số 05, diện tích 1094 m², chủ sử dụng theo sổ mục kê năm 1993 là Trạm vi ba, mục đích sử dụng là nhà ở tập thể Viba;
  • - Theo Bản đồ đo đạc năm 1999, hồ sơ kĩ thuật lập năm 1999 thì thửa đất số sử dụng đất là thổ 263, tờ bản đồ số 08 có chủ sử dụng đất là Khu tập thể Đ, mục đích sử dụng thổ cư;
  • - Về sắp xếp, xử lý nhà đất: Ngày 22/9/2016, Bộ T6 có Công văn số 13319/BTC-QLCS về phương án sắp xếp lại, xử lý các cơ sở nhà, đất của VNPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An, trong đó có khu đất tại số A, đường Đ, thành phố V. Ngày 16/06/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh có văn bản số 3944/UBND-KT xác định khu đất nêu trên là đất của Viễn thông Nghệ An. Ngày 13/7/2020, Tập đoàn B có Quyết định số 94/QĐ- VNPT-HĐTV-KHĐT về việc chuyển giao 50 cơ sở nhà đất từ V sang 25 VNPT tỉnh, thành phố, trong đó có khu đất tại số A, đường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An cho V sử dụng.
  • - Về sự phù hợp quy hoạch sử dụng đất: Khu đất V đang sử dụng tại phường L phù hợp với điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất năm đầu điều chỉnh của thành phố V đã được UBND tỉnh N phê duyệt tại Quyết định số 362/QĐ-UBND ngày 07/6/2018.
  • - Theo báo cáo rà soát hiện trạng sử dụng đất số 1995/BC ngày 03/9/2020 do V lập thì thửa đất nêu trên được Nhà nước giao cho Bưu điện N sử dụng từ năm 1983 (trước đây Bưu điện và Viễn thông chưa chia tách). Thực hiện các Quyết định số: 06/2006/QĐ-TTg ngày 09/01/2006 và số 265/2006/QĐ-TTg ngày 17/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ thì V được quản lý, sử dụng khu đất trên để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình viễn thông.
  • - Ngày 17/9/2020, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ1 kiểm tra hiện trạng để làm thủ tục cho V thuê đất thì thửa đất số 263 sử dụng mục đích nhà ở công vụ cho cán bộ tuần tra cáp quang (trên đất có 2 dãy nhà cấp 4), tại thời điểm kiểm tra không có tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến thửa đất, xung quanh có tường xây cố định, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 thành phố V.
  • Ngày 26/10/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh N đã ban hành Quyết định 452/QĐ- UBND cho V thuê đất tại A Đ, phường L V hiện đã được Ủy ban nhân dân tỉnh N cấp giấy CNQSDĐ số CX 268265 thể hiện tại thửa đất số 263, tờ bản đồ 08, diện tích 1.080,5m² vào ngày 08/02/2021.

[6] Xét yêu cầu khởi kiện về nội dung người khởi kiện cho rằng khu đất Ủy ban nhân dân tỉnh đã cấp cho V thuê đất là đất vào khoảng năm 1989 cạnh khu đất của Đài Viễn thông N, đường Đ, thành phố V có một dãy nhà tập thể đã xuống cấp, xây dựng trước năm 1980. Do chưa có nhà ở nên lãnh đạo Đài Viễn thông B đã phân cho bà Ngô Thị N là nhân viên Đài viễn thông một gian nhà để ở. Gia đình bà N đã sử dụng ổn định từ năm 1989 đến nay, quá trình sử dụng gia đình bà N đã cải tạo, nâng cấp một số hạng mục nhưng chính quyền địa phương không ai có ý kiến gì. Như vậy, gia đình bà N đã sử dụng đất không có tranh chấp hơn 30 năm và phù hợp quy hoạch khu dân cư (theo hồ sơ địa chính năm 1999 là đất thổ cư). Theo quy định tại Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 thì gia đình bà N mới là người sử dụng đất hợp pháp và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không phải V.

Xét thấy: Theo xác nhận về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của Ủy ban nhân dân phường L và Ủy ban nhân dân thành phố V thì khu đất Ủy ban nhân dân tỉnh cho V thuê đất, được Ủy ban nhân dân tỉnh N có Quyết định số 143/QĐ/UB ngày 01/2/1983 cho phép Bưu điện N1 được sử dụng đất để xây dựng trạm thông tin, vô tuyến truyền hình; Bản đồ địa chính năm 1993, sổ mục kê năm 1993 thể hiện là đất nhà ở tập thể trạm Viba; theo bản đồ năm 1999 là đất XDCB khu tập thể Đài Viễn thông; theo hồ sơ kỹ thuật năm 1999 thể hiện chủ sử dụng là khu tập thể Đài Viễn thông, mục đích sử dụng là đất thổ cư. Hồ sơ quản lý đất qua các thời kỳ được thể hiện như đã nêu tại mục [5]. Căn cứ vào xác nhận nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của V của Ủy ban nhân dân phường L, Ủy ban nhân dân thành phố V; hồ sơ sắp xếp xử lý cơ sở nhà đất của Bộ T6, Ủy ban nhân dân tỉnh; quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị; kết quả kiểm tra hiện trạng thì thửa đất số 153 tờ bản đồ số 5 diện tích 1.094m² nay là thửa đất số 263, tờ bản đồ số 8 diện tích 1.106,3m² là đất trạm Viba thuộc tập đoàn B – Viễn thông nay là V là có căn cứ.

Bà Ngô Thị N trình bày: năm 1989 được lãnh đạo Đài Viễn thông giao nhà ở tập thể và cho rằng không biết chủ sử dụng khu nhà tập thể, nhưng không cung cấp được bất kỳ tài liệu chứng cứ nào để chứng minh bà N đủ điều kiện để được cấp quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 101 Luật đất đai năm 2013. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của bà Ngô Thị N.

[7] Xét yêu cầu khởi kiện về nội dung người khởi kiện cho rằng căn cứ vào Điều 53 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất theo quy định của luật này và phải thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo quy định của pháp luật đối với trường hợp phải giải phóng mặt bằng”; đối chiếu quy định này thì Ủy ban nhân dân tỉnh N đã có Quyết định số 452/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 là trái quy định.

Xét thấy: Căn cứ Quyết định giao đất số 143 QĐ/UB ngày 19/2/1983 về việc giao đất cho Bưu điện N1 để xây dựng trạm thông tin vô tuyến truyền hình, bản đồ địa chính, sổ mục kê từ năm 1983 đến nay, xác nhận nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của Ủy ban nhân dân phường L và Ủy ban nhân dân thành phố V, Công văn số 13319/BTC-QLCS ngày 22/9/2016 của Bộ T6 về phương án sắp xếp lại, xử lý các cơ sở nhà, đất của VNPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An, hồ sơ thuê đất của VNPT như đã nêu tại mục [5] có căn cứ xác định thửa đất số 153 tờ bản đồ số 5 diện tích 1.094m² nay là thửa đất số 263, tờ bản đồ số 8 diện tích 1.106,3m² từ trước đến nay được giao cho Bưu điện N1 nay là Viễn thông Nghệ An - Tập đoàn B chi nhánh N (V) để xây dựng trạm Viba. Trước khi Ủy ban nhân dân tỉnh cho V thuê đất thì Nhà nước chưa giao đất, cho thuê đất hay công nhận quyền sử dụng đất cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào khác, không có quy hoạch cho mục đích sử dụng là đất ở. Các tài sản chính trên đất là khu nhà tập thể thuộc quyền sở hữu của V bố trí cho cán bộ công nhân viên mượn ở. Do thay đổi hình thức tổ chức và hoạt động theo Nghị định 25/2016/NĐ-CP của chính phủ thì Tập đoàn B là tổ chức tự chủ về tài chính nên phải thuê đất và nộp tiền thuê đất theo quy định tại Điều 60 Luật đất đai năm 2013. Nay nhà nước chỉ thay đổi mục đích sử dụng đất từ hình thức giao đất sang cho thuê đất nên Ủy ban nhân dân tỉnh N không ban hành quyết định thu hồi đất và giải phóng mặt bằng là đúng quy định.

[8] Xét yêu cầu do người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện cho rằng: Viễn thông Nghệ An là Chi nhánh tập đoàn B là đơn vị hạch toán trực thuộc không có tư cách pháp nhân. Ủy ban nhân dân tỉnh N đã ban hành Quyết định số 452/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 268265 ngày 08/02/2021 cho Viễn thông B – Chi nhánh tập đoàn B tại Nghệ An là không đúng quy định của pháp luật về đất đai. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy Quyết định số 452/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 268265 ngày 08/02/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh N.

Xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ về nguồn gốc sử dụng đất; căn cứ khoản 1 Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất được nhà nước giao đất là tổ chức; Điều 5 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày ; khoản 4 và 5 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ T8 thì thông tin trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được ghi tên tổ chức được giao đất; theo quy định tại Điều 44 Luật Doanh nghiệp quy định Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp; theo Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Tập đoàn B ban hành kèm theo Nghị định số 25/2016/NĐ-CP ngày 06/4/2016 của Chính phủ. Ngày 26/10/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh N đã ban hành Quyết định 452/QĐ-UBND và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 268265 ngày 08/02/2021 đối với thửa đất số 263, tờ bản đồ 08, diện tích 1.080,5m² với mục đích cho Viễn thông Nghệ An – Chi nhánh tập đoàn B thuê đất là chưa đúng đối tượng được nhà nước cho thuê đất, có sai sót về tên gọi, giấy tờ pháp nhân của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Xét thấy việc ban hành Quyết định 452/QĐ- UBND và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 268265 ngày 08/02/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh N không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Ngô Thị N và thuộc trường hợp đính chính thu hồi giấy chứng nhận đã cấp thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh N theo quy định tại Điều 106 Luật Đất đai năm 2013. Do đó không cần thiết phải hủy Quyết định 452/QĐ- UBND và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 268265 ngày 08/02/2021 đối với thửa đất số 263, tờ bản đồ 08, diện tích 1.080,5m² của UBND tỉnh N như yêu cầu của người khởi kiện.

[9] Từ các nhận định trên có căn cứ xác định bà Ngô Thị N khởi kiện nhưng không có tài liệu chứng cứ để chứng minh quyền và lợi ích của mình là hợp pháp nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét. Do đó bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị N.

[10] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị N không được chấp nhận nên người khởi kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính.

    Căn cứ Điều 5, Điều 53, Điều 60, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai năm 2013.

  2. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị N về yêu cầu hủy Quyết định số 452/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh N và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CX 268265 ngày 08/02/2021 do Ủy ban nhân dân tỉnh N cấp cho Viễn thông Nghệ An – Chi nhánh Tập đoàn B tại Nghệ An được sử dụng thửa đất số 263 tờ bản đồ số 08 diện tích là 1080,5m2 tại khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bà Ngô Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà Ngô Thị N đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001369 ngày 27/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Ngọc Tiếp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HCST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về khiếu kiện qđhc trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 22/2024/HCST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện QĐHC trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bác yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger