TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 22/2024/DSST Ngày: 03 - 5 - 2024 V/v tranh chấp HĐ vay tài sản | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Minh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Bạch Nhật Tuyến.
- Ông Nguyễn Văn Hai
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Hoàng Linh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 232/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Dương Thị Kim M, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ B, khóm M, thị
Đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1982. Địa chỉ: D, N, Phư
Bị đơn: Ông Cao Thanh N, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số C, Khóm B, Phường B, tl
Đại diện hợp pháp: Anh Lê Sỹ C, sinh năm 1987. Địa chỉ thường trú: Thôn M
Chị T có mặt. Anh C vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Thanh T đại diện nguyên Chị Dương Thị Kim M và ông Cao Thanh N là bạn bè quen biết khi làm ăn, mu Lần 1: Ngày 20/9/2022 ông N vay của chị M số tiền vốn 15.000.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 01 tháng, có làm biên nhận vay tiền. Ông N đã trả lãi đến hết tháng 3/2023. Từ tháng 4/2023 đến nay ông N không đóng lãi. Lần 2: Ngày 13/10/2022 ông N vay của chị M số tiền vốn 5.000.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 01 tháng, có làm biên nhận vay tiền. Ông N đã trả lãi đến hết tháng 3/2023. Từ tháng 4/2023 đến nay ông N không đóng lãi. Lần 3: Ngày 25/8/2023 ông N vay của chị M số tiền vốn 5.000.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 01 tháng, có làm biên nhận vay tiền. Ông N chưa đóng lãi. Lần 4: Ngày 28/8/2023 ông N vay của chị M số tiền vốn 5.000.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay 01 tháng, có làm biên nhận vay tiền. Ông N chưa đóng lãi. Tổng cộng số tiền vốn ông N vay của chị M là 30.000.000.000 đồng.
Ngoài ra, chị M xác định khi vay tiền ông N có giao cho chị M giữ bản chính phường B, Quận B, thành phố C ông Cao Thanh N đứng tên quyền sử dụng đất; thửa 732, tờ bản đồ 36 tọa lạc tại khu đô thị N, phường H, Quận C, thành phố C do Cao Nguyễn Thanh T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc ông N giao cho chị M giữ bản chính các giấy chứng nhận quyền sử dụng trên chỉ nhầm tạo sự tin tưởng trong giao dịch vay tiền, thực tế ông N không có thế chấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho chị M, do đó chị M không có yêu cầu gì đối với các quyền sử dụng đất này, chị M sẽ tự nguyện giao nộp lại bản chính các giấy chứng nhận cho cơ quan thi hành án xử lý theo thẩm quyền khi vụ án được giải quyết xong.
Quá trình tố tụng anh Lê Sỹ C là đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Cao Thanh N trình bày: Ông N thừa nhận có vay của chị M số tiền vốn 30.000.000.000 đồng và có làm 04 tờ biên nhận như lời trình bày của chị M. Ông N cũng thống nhất là từ tháng 4/2023 thì không có đóng lãi hàng tháng cho chị M (riêng ngày 14/10/2023 ông N có trả lãi được 200.000.000 đồng), với mức lãi suất 1,66%/tháng thì ông N thống nhất là tính đến ngày 27/02/2024 thì tiền lãi số tiền lãi ông N còn nợ chị M là 4.218.366.667 đồng. Tuy nhiên do kinh tế khó khăn, làm ăn thua lỗ nên ông N xin được không trả lãi, chỉ đồng ý trả cho chị M số tiền vốn 30.000.000.000 đồng.
Đối với 16 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông N giao cho chị M giữ thì ông N cũng xác định chỉ đưa chị M giữ để làm tin chứ không có thế chấp, nay ông N thống nhất với ý kiến của chị M là khi có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thì chị M sẽ giao bản chính các giấy chứng nhận cho cơ quan thi hành án xử lý theo thẩm quyền.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật, tư cách của người tham gia tố tụng, thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và bảo đảm thời hạn chuẩn bị xét xử cũng như chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu.
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, buộc ông N trả cho chị M tiền vốn 30.000.000.000 đồng và tiền lãi còn nợ tính đến ngày xét xử với mức lãi suất 1,66%/tháng, cấn trừ với số tiền lãi 200.000.000 đồng mà ông N đã trả cho chị M vào ngày 14/10/2023. Án phí và chi phí tố tụng khác: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Phía bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được mở lần thứ 4 mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu trả tiền vốn của chị Dương Thị Kim M: Ông N thừa nhận có vay tiền của chị M 04 lần vào các ngày 20/9/2022, 13/10/2022, 25/8/2023, 28/8/2023 với tổng số tiền vốn vay là 30.000.000.000 đồng và đồng ý trả cho chị M số tiền này nên việc chị M yêu cầu ông Cao Thanh N số tiền vốn vay là 30.000.000.000 đồng là có cơ sở để chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu tính lãi:
[3.1] Về mức lãi suất: Tại 04 biên nhận vay tiền được ký kết giữa chị M và ông N thể hiện lãi suất các bên thỏa thuận là 2%/tháng, việc chị M điều chỉnh mức lãi suất xuống còn 1,66%/tháng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
[3.2] Về thời gian tính lãi: Ông N thừa nhận kể từ tháng 4/2023 đến nay thì chưa đóng lãi cho chị M đúng hẹn, nên việc chị M yêu cầu tính lãi kể từ ngày 20/4/2023 đối với khoản vay ngày 20/9/2022; kể từ ngày 13/4/2023 đối với khoản vay ngày 13/10/2022, kể từ ngày ngày 25/8/2023 đối với khoản vay 25/8/2023, kể từ 28/8/2023 đối với khoản vay ngày 28/8/2023 cho đến ngày xét xử xong và khấu trừ đi số tiền lãi 200.000.000 đồng mà ông N đã đóng vào ngày 14/10/2023 là phù hợp với quy định tại Điều 469 Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận.
[3.3] Xét thấy, hợp đồng vay tài sản là sự tự thỏa thuận giữa các bên và khi trả tài sản vay thì bên vay cũng phải trả lãi nếu các bên có thỏa thuận. Khi giao kết hợp đồng thì giữa chị M và ông N có thỏa thuận lãi là 2%/tháng, mặc dù ông N cho rằng hiện kinh tế khó khăn, làm ăn thua lỗ nên có ý kiến xin được không phải trả lãi, tuy nhiên ý kiến này không được chị M chấp nhận, mặt khác chị M cũng đã điều chỉnh lãi suất xuống đúng quy định của pháp luật là 1,66%/tháng, do đó ông N phải trả lãi cho chị M với mức lãi suất 1,66%/tháng thì mới phù hợp với quy định tại các Điều 463, 468, 469 Bộ luật Dân sự. Qua kiểm tra, đối chiếu thì tổng số tiền lãi 5.511.200.000 đồng mà chị M đã tính đến ngày 03/5/2024 là chính xác nên được chấp nhận.
Đối với việc chị M tự nguyện khấu trừ với số tiền 200.000.000 đồng mà ông N đã trả vào ngày 14/10/2023 là không trái với pháp luật nên chấp nhận, số tiền lãi ông N còn phải trả là: 5.511.200.000 đồng - 200.000.000 đồng = 5.311.200.000 đồng.
[3.4] Hợp đồng vay tiền được xác lập giữa chị M và ông N là không có kỳ hạn, các bên không hề có thỏa thuận nghĩa vụ trả lãi suất quá hạn nên việc chị M yêu cầu ông N trả lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng kể từ sau ngày xét xử cho đến khi trả xong nợ là chưa phù hợp với quy định pháp luật nên không xem xét giải quyết.
[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Kim M. Buộc ông Cao Thanh N trả cho chị M số tiền vốn vay là 30.000.000.000 đồng và tiền lãi tổng cộng là 5.311.200.000 đồng.
[5] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với quy định.
[6] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Các vấn đề khác:
Đối với bản chính 16 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm 4988, 4986, 5054, 5052, 5001, 4984, 5002, 5004, 5052, 1172, 5053, 5051, 5003, 5056, cùng tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang và thửa thửa 817, tờ bản đồ 29 tọa lạc tại, phường B, Quận B, thành phố Cần Thơ ông Cao Thanh N đứng tên quyền sử dụng đất; thửa 732, tờ bản đồ 36 tọa lạc tại khu đô thị N, phường H, Quận C, thành phố Cần Thơ do Cao Nguyễn Thanh T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chị M đang giữ thì cả chị M và ông N đều xác định không có việc thế chấp, cả hai đều thống nhất là chị M sẽ giao nộp lại bản chính các giấy chứng nhận cho cơ quan thi hành án xử lý theo thẩm quyền khi vụ án được giải quyết xong, không có ý kiến tranh chấp gì trong vụ án này nên không xem xét giải quyết.
Đối với tiền lãi mà ông N đã đóng cho chị M kể từ khi vay vào tháng 9/2022 cho đến tháng 3/2023, các đương sự không có yêu cầu tranh chấp gì nên không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 158, Điều 165, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 357, 463, 466, 468 và Điều 469 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 26 của nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Kim M.
Buộc ông Cao Thanh N trả cho chị Dương Thị Kim M số tiền vốn vay là 30.000.000.000 đồng và tiền lãi là 5.311.200.000 đồng. Tổng cộng: 35.311.200.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án; mà người phải thi hành án chưa thi hành xong các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành án xong.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Cao Thanh N phải chịu 143.311.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Dương Thị Kim M được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 70.278.000 đồng theo biên lai số 0003852 ngày 14/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Bạch Nhật Tuyến - Nguyễn Văn Hai | Đặng Hoàng Minh |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Hoàng Minh |
Bản án số 22/2024/DSST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hđ vay tài sản
- Số bản án: 22/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp HĐ vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông N đồng ý trả số tiền vay
