|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/DS-PT
Ngày: 17/4/2024
V/v Tranh chấp chia di sản thừa kế tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Ông Vũ Duy Luân
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2023/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp chia di sản thừa kế” do có kháng cáo đối với bản án số 22/2023/DSST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
- Ông Phạm Văn L, sinh năm 1946 (có mặt)
- Ông Phạm Văn L1, sinh năm 1954 (vắng mặt)
- Ông Phạm Hải N, sinh năm 1955 (có mặt)
- Ông Phạm Xuân L2, sinh năm 1959 (vắng mặt)
Đều có địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình
* Bị đơn: Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1966 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T: Luật sư Đường Nam K và Luật sư Hoàng Lệ Khánh L3, thuộc Công ty L6; Địa chỉ: Phòng 2007, tầng B, tòa nhà C, dự án D, số A, đường T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. (có mặt)
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1969 (có mặt)
- Bà Bùi Thị V, sinh năm 1946 ( vắng mặt)
- Chị Phạm Thị T2, sinh năm 1989 (có mặt)
- Chị Phạm Thị O (R), sinh năm 1994
Đều có địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình
- Anh Phạm Văn H, sinh năm 1985 (có mặt)
- Chị Phạm Thị M, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Đều có địa: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình
- Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn Đ – Chủ tịch UBND xã N (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông L1:
- Ông Phạm Văn P, sinh năm 1972(có mặt)
Địa chỉ: Thôn Phú Lâm, xã Nam Hồng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Ông Vũ Thành C, sinh năm 1972(có mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình
- Ông Lê Văn Đ1, sinh năm 1969(có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình
- Ông Trương Văn M1, sinh năm 1960(có mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình
Người đại diện theo ủy quyền cho ông L:
- Ông Phạm Xuân Đ2, sinh năm 1977(có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình
Người đại diện theo ủy quyền của ông N
Ông Phạm Văn L4, sinh năm 1982(có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình
Người đại diện theo ủy quyền của ông L2:
- Ông Phạm Hải N, sinh năm 1955(có mặt)
Địa chỉ: Thôn Phú Lâm, xã Nam Hồng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Ông Phạm Văn N1, sinh năm 1985(có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình
Người đại diện theo ủy quyền của ông Thới
Anh Phạm Văn H, sinh năm 1985(có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình
Người đại diện theo ủy quyền của bà V
Ông Phạm Văn L, sinh năm 1946(có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình
* Người kháng cáo: Ông Phạm Văn T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án, các đồng nguyên đơn đều thống nhất trình bày:
Bố, mẹ của các nguyên đơn là cụ ông Phạm Văn H1, sinh năm 1917, chết ngày 07/10/2000, cụ bà Trần Thị T4, sinh năm 1919, chết ngày 28/01/2018. Cụ H1 và cụ T4 sinh được 06 người con là các ông Phạm Văn L, sinh năm 1946; Liệt sỹ Phạm Văn T5, sinh năm 1947, hy sinh tháng 02 năm 1970, Liệt sỹ Thỏa có vợ là bà Trần Thị T6, sinh năm 1948, trú tại thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình và không có con; ông Phạm Văn L1, sinh năm 1954; ông Phạm Hải N, sinh năm 1955; Phạm Xuân L2, sinh năm 1959 và ông Phạm Xuân T, sinh năm 1966, đều trú tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Ngoài ra, cụ H1, cụ T4 không có con đẻ, con nuôi nào khác. Bố, mẹ của cụ H1 và cụ T4 chết trước khi cụ H1 và cụ T4 chết. Cụ H1 và cụ T4 chết không để lại di chúc nhưng có để lại di sản gồm: Thửa đất số 622, tờ bản đồ số 2, bản đồ 299, diện tích 560m², loại đất T; thửa đất số 617, tờ bản đồ số 2, bản đồ 299, diện tích 484m², loại đất A. Theo sổ mục kê 299 mang tên Ph H2 có 1610m², gồm 560m² đất T, 484m² đất A và 576m² đất LM + 2L. Theo bản đồ 1990 các thửa đất trên hợp thành số thửa 3914, tờ bản đồ số 02, diện tích 780 m², loại đất T; theo sổ mục kê năm 1990, số thửa 3914, tờ bản đồ số 02, diện tích 780 m², loại đất T mang tên T, có địa chỉ tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Theo bản đồ 1990 số thửa 3913, tờ bản đồ số 02, diện tích 120 m², loại đất A; theo sổ mục kê năm 1990, số thửa 3913, tờ bản đồ số 02, diện tích 120 m², loại đất A mang tên Lại có nguồn gốc là một phần lấp ao của thửa đất số 617, tờ bản đồ số 2, Bản đồ 299, diện tích 484 m², loại đất A do ông Phạm Văn L đang sử dụng tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Ông L cũng khẳng định diện tích 120m² đất ao ông đang quản lý sử dụng chưa được bố mẹ cho nhưng tự ý lấp để sử dụng và đồng ý chia di sản thừa kế đối với diện tích đất này.
Tại kết quả đo đạc 06/6/2023, tổng diện tích thửa đất đang tranh chấp do ông T, bà T1 đang quản lý, sử dụng là 819,4m². Phần diện tích 120m² đất ao ông L, bà V đang quản lý sử dụng đã nhập chung vào đất ông L, không xác định được cụ thể độ dài các cạnh. Các nguyên đơn đồng ý với kết quả đo đạc, thẩm định tại chỗ và định giá ngày 06/6/2023 và không có ý kiến gì khác.
Do có nhu cầu xây dựng từ đường gia đình và nơi thờ cúng Liệt sỹ, các nguyên đơn đã yêu cầu chia đất từ khi bố mẹ còn sống, tuy nhiên ông Phạm Xuân T không đồng ý, nay các nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải để giải quyết việc chia thừa kế của cụ H2 và cụ T4 bao gồm diện tích 120 m² đất ao đang do ông L, bà V quản lý sử dụng và diện tích 819,4 m² đất (như đo đạc thực tế)
gồm 400m² đất ở và 419,4m² đất vườn tạp hiện đang do ông T, bà T1 đang quản lý sử dụng tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình và không yêu cầu chia bất cứ di sản nào khác. Để thuận tiện cho việc xây dựng từ đường gia đình và nơi thờ cúng Liệt sỹ các nguyên đơn yêu cầu chia bằng hiện vật (đất). Cụ thể là đối với diện tích đất ông T, bà T1 đang quản lý sử dụng ông L1, Lời, Như không yêu cầu chia cho từng ông cụ thể mà chia cho các ông 01 mảnh chung, đối với diện tích đất ông L, bà V đang quản lý sử dụng không xác định được độ dài các cạnh vì đã nhập vào đất của ông L nên đề nghị chia cho ông L.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - ông Phạm Xuân T trình bày:
Theo bản đồ 299, thì bố mẹ ông là các cụ Phạm Văn H1 và Trần Thị T4 có 560 m² đất thổ và 484 m² đất ao. Nhưng đến năm 1990 đo lại đất, cụ Phạm H1 tuyên bố cho ông Phạm Văn 1 260 m², còn lại cho ông đứng tên vì vợ chồng ông ở cùng bố, mẹ, còn các anh, em ông đều được bố, mẹ mua đất, dựng nhà ở riêng cho từng người. Như vậy, các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ H1, cụ T4 theo bản đồ 299 với diện tích 1044 m² là không đúng. Trong số 780 m² do ông quản lý và sử dụng thì chỉ có 400 m² đất thổ cư, còn lại 380 m² đất ao chuyển thành đất vườn tính vào diện tích ruộng cơ bản của gia đình theo Quyết định số 652 ngày 17/11/1993 và Quyết định 948 ngày 25/9/2000 của UBND tỉnh T, thửa đất này ông được bố mẹ cho và đã làm nhà ở trên đó, hàng năm đều thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định.
Tại bản tự khai không đề ngày, bị đơn là ông Phạm Xuân T trình bày:
Bố mẹ ông sinh được 06 người con, có 01 con là Liệt sỹ chống Mỹ cứu nước là Liệt sỹ Thỏa có vợ là bà Trần Thị T6 nhưng không có con, khi ông T5 hy sinh bà đã về quê sinh sống, còn lại 05 người con trai là Phạm Văn L, Phạm Văn L1, Phạm Hải N, Phạm Xuân L2 và ông là Phạm Xuân T. Bố mẹ ông ở cùng gia đình ông để trông nom chăm sóc các cụ lúc tuổi già. Theo bản đồ 299, các cụ có 04 thửa đất gồm thửa 3912 diện tích 529 m²; 5518 diện tích 616 m²; 5522 diện tích 820 m²; 3914 diện tích 780 m² và một cái ao thửa 3913. Năm 1990, khi đo đạc bản đồ 241 bố mẹ ông thống nhất với xóm trưởng và cán bộ địa chính xã sang tên cho 03 người con là ông L, con trai trưởng được chia gồm 02 thửa đất 3912 diện tích 529 m² và thửa 5518 đất màu diện tích 616 m² trên đất có 5 gian nhà ngói của các cụ; ông N được chia thửa 5522 diện tích 820 m² có 4 gian nhà ngói của các cụ; ông được chia thửa 3914 diện tích 780 m² có 5 gian nhà ngói của các cụ. Tất cả 03 anh em đều đã được đứng tên trong sổ địa chính và trên bản đồ đăng ký sử dụng đất. Sau khi con trai ông mất, ông chỉ còn có con gái nên năm 1995, các anh ông đã tranh chấp với ông khi đó bố mẹ ông còn sống đã được UBND xã là ông Phạm Thế Đ3, lúc đó là Phó Chủ tịch kiêm Trưởng công an xã, ông Bùi Hoàng T7; ông Phạm Thế H3 Bí
thư Chi bộ kiêm trưởng thôn, ông Phạm Hồng X, ông Tạ Văn Đ4 cán bộ địa chính xã hòa giải nhiều lần và Chánh án Tiền H4 lúc đó là ông Lê Thanh T8 cũng đã hòa giải, bố ông khẳng định đất đã cho vợ chồng ông nên bố ông không chấp nhận. Theo Quyết định số 652 ngày 17/11/1993 và Quyết định 948 ngày 25/9/2000 của UBND tỉnh T, thửa đất gia đình ông sử dụng có diện tích 780 m² được tính 400m² đất thổ cư, còn lại 380 m² chuyển đổi đất vườn thành đất ruộng cơ bản chia theo nhân khẩu gia đình ông sử dụng ổn định và làm nghĩa vụ với nhà nước. Nếu bố mẹ ông có ý cho các anh ông 1 suất trong phần thổ của ông đang sở hữu thì bố ông đã cho mấy chục năm rồi, khi bố mẹ ông còn mạnh khỏe, minh mẫn. Nay bố mẹ ông chết, các anh ông khởi kiện chia di sản thừa kế, ông bác bỏ yêu cầu này vì đất này bố mẹ ông đã cho vợ chồng ông nên khi tranh chấp đất đai năm 1995 đã được giải quyết khi bố mẹ ông còn sống nên diện tích đất ông đang sử dụng không phải là di sản để chia thừa kế. Ông đề nghị Tòa án căn cứ Điều 97, 99 Bộ luật tố tụng dân sự xác minh thu thập tài liệu chứng cứ tại UBND xã N, lấy lời khai các cá nhân đã từng tham gia giải quyết tranh chấp vì họ là nhân chứng về việc bố mẹ ông cho vợ chồng ông mảnh đất này để xử bác yêu cầu của nguyên đơn.
Hồ sơ thể hiện, ngày 10/12/2021, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T là luật sư Phạm Quốc B cung cấp cho Tòa án một số biên bản xác minh đều vào ngày 08/12/2021, nội dung cụ thể:
Ông Phạm Ngọc K1 và ông Phạm Văn T9 đều trú tại thôn P, xã N, đều là người cùng dòng họ với cụ H1 có ý kiến cụ H1 đã cho đất cả 5 người con và đã có tên trong sổ địa chính 1990 và sử dụng ổn định đến nay nên không có gì mà tranh chấp.
Ông Tạ Văn Đ4, thôn T, xã N nguyên cán bộ địa chính xã N từ 1999 đến 2021 có ý kiến theo hồ sơ đất đai xã N quản lý ông T đã có tên trong sổ mục kê và bản đồ 1990.
Ông Phạm Thế Đ3, thôn P, xã N nguyên Phó Chủ tịch UBND xã N từ 1990 đến 2001 cho biết Nghị định 300 thay cho bản đồ 299, cụ H1 đã chia đất cho các con như hiện nay, ông T đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước. Năm 1995 đã xảy ra tranh chấp đòi chia thừa kế của cụ, địa phương hòa giải không thành đã lập hồ sơ chuyển Tòa án nhân dân huyện, khi đó Thẩm phán, Chánh án Lê Thanh T8 và 01 thẩm phán về địa phương xác minh, giải quyết, khi đó cụ H1, cụ T4 còn sống, cụ H1 bác bỏ không công nhận nên Tòa Tiền H4 đã bác không công nhận. Sau khi cụ H1 mất, ông C1 làm chủ tịch lại xảy ra vụ kiện giữa ông L1, ông T, xã đã giải quyết êm thấm không thấy tranh chấp nữa. Đây là lần tranh chấp thứ 3, quan điểm của ông Đ3 là các cụ đã cho đất ông T, ông T đã thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ với nhà nước, mặt khác đã được Tòa ánTiền H4 giải quyết từ năm 1995. Đề nghị Tòa án căn cứ quy định để giải quyết.
Ông Phạm Xuân C2, thôn P, xã N ý kiến, cụ H1 là bác ruột ông, cụ H1 giàu có nhất làng, đã xây dựng cho các con mỗi người một nhà, ông L con cả nhà ngói 5 gian cổ giá trị nhất, ông T ở với cụ H1. Cụ H1 có một con riêng tên là L4 ở Lào Cai, cụ đã mua cho ông L4 8m mặt đường cách nhà ông T, sau đó con ông L4 bán lại cho ông T10, vì ông L4 bị ung thư, các con ông L4 không về quê. Tranh chấp nhiều lần xã phải giải quyết. Những năm 1980, ông L1 có mượn ít đất làm quán sửa xe, khi làm xóm trưởng ông L1 trả lại không làm nữa nên ông T dỡ đi. Trước đây có cái ao trước cửa sát đường, sau có 2 cháu chết đuối nên lấp đi, ông T, ông L mỗi người một nửa ao. Trước khi chết cụ H1 đã thanh lý các tài sản, ông T chỉ còn xác nhà đã xuống cấp nên ông T dỡ đi làm lại. Khi làm bản đồ 300 và sổ mục kê cụ H1 đã tách hết cho các con từ 1990 đến nay. Quan điểm của ông C2 là không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Ông Phạm Thế H3, thôn P, xã N ý kiến năm 1995 ông làm bí thư chi bộ kiêm trưởng xóm F xã N đã nhiều lần tham gia hòa giải giữa ông L1 và ông T. Trong thời gian tranh chấp, chính cụ H1 nhiều lần gặp gỡ, trao đổi với ông là đất thổ của ông Thới c đã cho là của ông T, cụ không chia cho người con nào nữa, vì cụ nói đã chia đôi thổ ở mặt đường con trưởng một nửa, con út một nửa, còn phía sau cụ cho con thứ từ năm 1990 lúc đó cùng cán bộ xóm, địa chính xã và đã đứng tên trong bản đồ 1990. Phần ông L con trưởng nhiều hơn phần ông T, sau nhà ông L là phần đất mầu rất rộng. Ông T đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước. Tranh chấp giữa các bên đã xảy ra hơn 20 năm, được bố mẹ, họ hàng, làng xóm và các cấp nhà nước hòa giải nhưng không nghe chỉ vì ông T không có con trai. Nếu cụ H1 có ý chia đất thổ ông T cho người con nào khác thì đã chia từ năm 1995, 1996, 1997 vì khi đó cụ còn minh mẫn và khỏe mạnh. Bây giờ các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế là không đúng vì tài sản và đất cụ đã chia cho các con từ năm 1990, 5 con 5 thổ, năm nhà ngói.
Ngày 10/12/2021, người đại diện theo ủy quyền của của ông L1 là ông Trương Văn M1 cung cấp cho Tòa án 03 đơn đề nghị đều vào ngày 09/12/2021, nội dung cụ thể:
Ông Phạm Ngọc K1, ông Phạm Văn T9 đề nghị rút lại toàn bộ nội dung đã cung cấp cho luật sư là người bào chữa cho ông T vào ngày 08/12/2021, đề nghị Tòa án và các vị luật sư không coi lời nói của ông là bằng chứng để xem xét giải quyết. Ông Phạm Xuân C2 đính chính nội dung ông cung cấp cho luật sư là người bào chữa cho ông T vào ngày 08/12/2021 như sau: Bác ông sinh được 6 người con trai, có 01 là liệt sỹ, các anh đều có vợ con ở riêng, mỗi nhà một thổ; có 02 thổ của
bác là người con trai trưởng, con trai út ở, có nhà trên đất, nay cả hai nhà đã dột nát, các anh đã sửa lại và làm nhà cấp bốn. Thửa đất ông Phạm Xuân T ở sát đường 221B, phía Đông thổ, ông L1 có làm lán sửa chữa xe đạp, xây gạch xung quanh lợp rạ, khi làm xóm trưởng ông L1 không sửa xe nữa, ông T tự động dỡ bỏ và xây quanh thổ lại cho gọn. Sau đó ông L1 lên xin bác ông mảnh đất trên để tiếp tục hành nghề, bác ông đồng ý và anh em các bác đã mang giấy để đo cắm mốc thì ông Phạm Văn T3 không nhất trí và đã uống thuốc để tự tử do vậy mọi người sợ hãi và dừng lại. Từ đó đến nay ông L1 vẫn đòi số đất trên, chính quyền xã hòa giải nhiều lần không thành. Ông C2 cam đoan mọi việc ông nêu trên đây là những gì ông biết, là đúng sự thật, nếu sai hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật, những thông tin trước đây trái với đính chính này xin bãi bỏ.
Tại biên bản lấy lời khai ngày ngày 12/4/2022, các ông Phạm Thế H3, Phạm Thế Đ3, trú tại thôn P, xã N có ý kiến:
Các ông xác định thửa đất ông T3, ông L1 đang tranh chấp có nguồn gốc của cụ H1 (là bố đẻ của ông T3 và ông L1). Khi các ông còn làm việc tại xã và cơ sở thôn đã xảy ra tranh chấp. Năm 1995 tranh chấp xã không giải quyết được đã chuyển hồ sơ cho Tòa án giải quyết, kết quả thế nào các ông không rõ. Quan điểm của hai ông là đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.
Xác minh tại UBND xã N, huyện T thể hiện:
Cụ Phạm Văn H1, sinh năm 1917, chết năm 2000 và cụ Trần Thị T4, sinh năm 1919, chết năm 2008. Cụ H1 và cụ T4 sinh được 06 người con là các ông Phạm Văn L (Phạm Bá L5); Liệt sỹ Phạm Văn T5, ông Phạm Văn L1, ông Phạm Hải N, Phạm Xuân L2 và ông Phạm Xuân T.
Cụ H1 và cụ T4 có để lại khối di sản gồm: Theo Bản đồ 299, tờ bản đồ số 2, Thửa đất số 622, diện tích 560 m², loại đất T, chủ sở hữu Phạm H1 (thôn P, xã N); số thửa 617, diện tích 484 m², loại đất A, chủ sở hữu Phạm H1 (thôn P, xã N), tổng diện tích là 1044 m². Theo bản đồ năm 1990, số thửa 3914, tờ bản đồ số 02, diện tích 780 m², loại đất T mang tên T.
Về nguyên nhân thay đổi, tên chủ sử dụng từ bản đồ 299 và bản đồ 1990 (từ P, sang T) do thời gian đã lâu, UBND xã không còn lài liệu nào lưu giữ về việc chuyển tên chủ sử dụng trên. UBND xã không xác định được nguyên nhân đổi tên chủ sử dụng.
Về việc biến động diện tích theo bản đồ 299 là 1044 m² sang bản đồ 1990 còn 780 m² nguyên nhân do biến động đất đai qua các thời kỳ và biến động một phần diện tích sang đất nhà ông Phạm Văn L (theo bản đồ 299, ông L có số thửa 614, diện tích 574 m² (T); sang bản đồ 1990 ông lại có 02 thửa, 3912, diện tích 529 m² (T) và thửa 3913 diện tích 120m² (A). Việc thay đổi diện tích đất thổ từ 560 m²
theo bản đồ 299 đến 780 m² theo bản đồ 1990 nguyên nhân là do lấp một phần ao thành đất vườn của thửa 617. Về tài liệu liên quan đến việc biến động diện tích đất, loại đất thì UBND xã không còn lưu giữ.
Theo Bản đồ 299, thửa đất số 622, diện tích 560m², loại đất T và số thửa 617, diện tích 484 m², loại đất A, tại thôn P, xã N, mang tên cụ Phạm H1. Theo bản đồ năm 1990, đã hợp thành số thửa 3914, diện tích 780 m²,, loại đất T và thửa 3913, diện tích 120 m², loại đất A. Thửa 3914 mang tên T, thửa 3913 mang tên L (Phạm Xuân T và Phạm Văn L). Việc thay đổi tên chủ sử dụng trên UBND xã không xác định được. U hồ sơ liên quan đến việc tặng cho, thừa kế, chuyển nhượng từ cụ H1 sang ông T. Thửa đất đang tranh chấp hiện do ông T đang quản lý và sử dụng, đóng thuế đất ở cho Nhà N2. Quan điểm của địa phương là giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về việc biến động diện tích theo bản đồ 299 là 1044 m², sang bản đồ 1990 còn 780 m², là biến động qua đo đạc từ các thời kỳ trước đã lâu, địa phương không nắm được cụ thể lý do biến động. Qua đo đạc thực tế, hiện nay diện tích của thửa đất trên là hơn 800 m², việc biến động này do sai số trong đo đạc từ thời kỳ trước (tại biên bản ngày 09/5/2022, UBND xã xác định phần diện tích dôi dư từ bản đồ 1990 so với đo đạc thực tế hiện nay do Nhà nước quản lý).
Đối với ý kiến của ông Phạm Thế Đ3, nguyên Phó Chủ tịch UBND xã thời kỳ 1990-2001 trình bày về việc UBND xã giải quyết tranh chấp giữa ông L1, ông T11 từ năm 1995, sau đó chuyển lên TAND huyện, thời kỳ đó ông Phạm X làm địa chính (ông X đã chết), sau đó đến ông Tạ Văn Đ4, sau này ông Q làm địa chính. UBND xã không lưu giữ hồ sơ tranh chấp.
Đối với diện tích 380m² đất vườn trong thửa 3914: Theo sổ giao ruộng của địa phương quản lý, khẩu 652 của hộ ông Phạm Xuân T gồm 04 khẩu: Ông Phạm Xuân T, bà Phạm Thị T1, chị Phạm Thị M và Phạm Thị R1 được giao 536m² x 4 khẩu = 2144m². Khẩu 948 hộ ông T gồm 4 khẩu 652 cộng 01 khẩu phát sinh là chị Phạm Thị T2 tổng là 05 khẩu được giao thêm 60m². Tổng được giao là 2204m². Thực hiện phương án dồn điền đổi thửa năm 2012, mỗi khẩu được giao ruộng đóng góp làm đường giao thông thủy lợi nội đồng là 26m² (riêng khẩu phát sinh không phải đóng góp). Sau khi trừ đi mỗi khẩu 26m² thì diện tích đất được giao thực tế là 2100m². Tổng diện tích đất nhà ông T có trong và ngoài đồng là 2110m², sau khi quy đổi theo tỷ lệ 02 đất vườn bằng 01 đất ruộng (đất trong khuôn viên thổ 380m² quy đổi thành 190m² đất ngoài đồng). Như vậy thực hiện dồn điền đổi thửa và trừ giao thông thủy lợi, diện tích thực tế hiện nay nhà ông T là 1910m² thực giao ngoài đồng.
Bản án số 22/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện
Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Áp dụng: Các Điều 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự năm 2015. Khoản 5 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 157, 165, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
1. Tuyên xử:
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu của các nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế của cụ Phạm H1 và cụ Trần Thị T4 theo quy định của pháp luật.
1.2 Xác định 380m², đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 3914 do ông Phạm Xuân T quản lý, sử dụng tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bìn theo bản đồ 1990 không phải là di sản thừa kế mà là đất của hộ gia đình nhà ông Phạm Xuân T (gồm ông T, bà Phạm Thị T1, chị Phạm Thị O (Răm), chị Phạm Thị T2 và chị Phạm Thị M). Diện tích đất này được ký hiệu là S4 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án và tứ cận cụ thể như sơ đồ phân chia kèm theo bản án.
1.2. Xác định di sản thừa kế của cụ Phạm H1 và Trần Thị T4 gồm: 400 m² đất ở và 39,4 m² đất trồng cây lâu năm hiện do ông Phạm Xuân T, bà Phạm Thị T1 quản lý, sử dụng và 120 m² đất ao do ông Phạm Văn L, bà Bùi Thị V quản lý, sử dụng tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tổng cộng di sản thừa kế có giá trị là 4.326.813.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm hai mươi sáu triệu tám trăm mười ba nghìn đồng).
- Chia cho ông Phạm Xuân T 146,4m² đất gồm: 133,4m², đất ở và 13m² đất trồng cây lâu năm trong thửa đất số 3914, tờ bản đồ số 2, bản đồ 1990 mang tên T tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình có giá trị là 2.025.720.000đồng; trên đất có các tài sản của ông T bà T1 gồm: Nhà chính, sân, lán tôn. Diện tích đất này được ký hiệu là S3 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án và tứ cận cụ thể của diện tích đất như sơ đồ phân chia kèm theo bản án.
- Chia cho ông Phạm Văn L toàn bộ diện tích đất ao 120m², tại thửa đất số 3913, tờ bản đồ số 2, bản đồ 1990 mang tên Lại tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình có giá trị là 5.040.000đồng. Diện tích đất này được ký hiệu là S1 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án và độ dài tứ cận của diện tích đất này không xác định được, tứ cận của diện tích đất này tiếp giáp với các diện tích đất như sơ đồ thửa đất và sơ đồ phân chia kèm theo bản án. Ông L có nghĩa vụ thanh toán cho các ông L1, N, L2, T mỗi người 840.000 đồng là phần giá trị của 20m² đất ao được chia.
- Chia cho các ông Phạm Văn L1, Phạm Xuân L2 và Phạm Hải N tổng diện tích 292,8m² đất gồm: 266,8 m² đất ở và 26 m² đất trồng cây lâu năm có giá trị 2.882.610.000đồng. Trên đất có các tài sản sau: 131,6m² nhà xưởng có giá trị 452.072.320đồng và 49m² lán tôn có giá trị là 13.034.000đồng của anh Phạm Văn H và chị Phạm Thị M xây dựng; 68,7m² nhà tôn phía sau + công trình phụ có giá trị 241.439.280đồng và 18,3m2 lán tôn có giá trị 4.867.800đồng và 19,6m2 nhà fiboro đã hết khấu hao do ông Phạm Xuân T và bà Phạm Thị T1 xây dựng. Do đó các ông L1, Như, Lời có trách nhiệm thanh toán cho anh Phạm Văn H và chị Phạm Thị M tổng giá trị tài sản trên đất của anh H và chị M là 465.106.320đ (Bốn trăm sáu mươi lăm triệu một trăm linh sáu ngàn ba trăm hai mươi đồng) và thanh toán cho ông Phạm Xuân T và bà Phạm Thị T1 tổng giá trị tài sản trên đất của ông T, bà T1 là 246.307.080₫ (hai trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm linh bẩy ngàn không trăm tám mươi đồng). Các ông L1, Lời, Như có trách nhiệm thanh toán cho ông L giá trị của 66,7 m² đất ở và 6,5 m² đất trông cây lâu năm là 720.652.500đồng. Đối trừ số tiền ông L phải thanh toán cho ông L2, Lạc N3 mỗi ông giá trị của 20 m², đất ao là 2.520.000đồng do đó các ông L1, Lời, N3 còn phải thanh toán cho ông L 718.132.500₫ (Bẩy trăm mười tám triệu một trăm ba mươi hai ngàn năm trăm đồng).
Diện tích đất các ông Phạm Văn L1, Phạm Xuân L2 và Phạm Hải N được chia được ký hiệu là S2 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án và tứ cận cụ thể của diện tích đất như sơ đồ phân chia kèm theo bản án.
2. Về án phí:
Các ông Phạm Văn L, Phạm Văn L1, Phạm Hải N, Phạm Xuân L2 được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Phạm Xuân T phải nộp 72.531.200đồng (Bẩy mươi hai triệu năm trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/10/2024 ông Phạm Xuân T kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị hủy bản án sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của nguyên đơn đồng thời yêu cầu Tòa án buộc nguyên đơn bồi thường 3 tỷ đồng tiền thuê luật sư và các chi phí khác.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo vắng mặt, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người kháng cáo đề nghị giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được về giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T đề nghị Toà án căn cứ vào sổ mục kê năm 1990 đất đã mang tên ông Phạm Xuân T, đây là một trong những loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2003 nên căn cứ Nghị Quyết 02/2004/HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC để xác định đất thuộc quyền sử dụng của bị đơn, bác yêu cầu của các nguyên đơn.
Các nguyên đơn và người có quyền lợi liên quan không kháng cáo, đề nghị Toà án giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phạm Xuân T làm trong thời hạn luật định nên kháng cáo là hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
[2.1]Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Phạm Văn H1, chết ngày 07/10/2000, thời điểm mở thừa kế của cụ H1 là ngày 07/10/2000; cụ Trần Thị T4, chết ngày 28/01/2018, thời điểm mở thừa kế của cụ T4 là ngày 28/01/2018. Tòa án cấp sơ thẩm xác định vụ án còn thời hiệu theo quy định tại điều 623 Bộ luật dân sự là đúng quy định.
[2.2] Về hàng thừa kế: Theo lời khai của các đương sự và tại biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình đều xác định cụ H1, cụ T4 có 06 người con gồm các ông Phạm Văn L, sinh năm 1946; Liệt sỹ Phạm Văn T5, sinh năm 1947, hy sinh tháng 02 năm 1970, Liệt sỹ Thỏa có vợ là bà Trần Thị T6, sinh năm 1948, trú tại thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình và không có con; ông Phạm Văn L1, sinh năm 1954; ông Phạm Hải N, sinh năm 1955; Phạm Xuân L2, sinh năm 1959 và ông Phạm Xuân T, sinh năm 1966, đều trú tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Cụ H1, cụ T4 không có con đẻ, con nuôi nào khác. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định hàng thừa kế của cụ H1, cụ T4 gồm 05 người là các ông L1, L, Như, Lời, T là đúng quy định pháp luật.
[2.3] Do cụ H1, cụ T4 khi chết không để lại di chúc nên Tòa án cấp sơ thẩm chia di sản thừa kế theo pháp luật là đúng quy định
[2.4] Xác định di sản thừa kế: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ về nguồn gốc đất cụ H1, cụ T4 để lại, quá trình biến động về đất cũng như hiện trạng sử dụng đất để xác định di sản thừa kế của cụ H1, cụ T4 gồm: 400m² đất thổ và 39,4m² đất trồng cây lâu năm tại các thửa đất số 6914, tờ bản đồ số 2, bản đồ 1990 do ông T bà T1 đang quản lý sử dụng và diện tích 120m² đất ao tại thửa số 3913,tờ bản đồ số 2,
bản đồ 1990 do ông L, bà V đang quản lý, sử dụng là đúng quy định pháp luật. Ông T không đồng ý việc Tòa án xác định di sản trên để chia thừa kế với lý do di sản này ông T đã được bố mẹ là cụ H1, cụ T4 đã tặng cho thể hiện ở việc bố mẹ ông không đứng tên trên các giấy tờ đất lưu trữ ở địa phương; sổ mục kê và các giấy tờ khác đều mang tên Phạm Xuân T.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định ông T, bà T1 sử dụng đất, đã xây nhà, lập khuôn viên riêng, mặc dù có tên trong bản đồ, sổ mục kê năm 1990 nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Toà án cấp sơ thẩm xét thấy cũng không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện việc cho tặng, chuyển nhượng của cụ H1, cụ T4 cho ông T. Ông T chỉ cung cấp được tài liệu là sổ mục kê năm 1990 thể hiện tê ông, ngoài ra ông T cũng không có các giấy tờ nào được quy định tại Điều 18 Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, không thuộc trường hợp quy định tại Điều 20 Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Vì vậy, không có căn cứ để xác lập quyền sở hữu hợp pháp của ông T, bà T1 đối với diện tích đất tại số thửa 3914 tờ bản đồ 1990 có địa chỉ tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Tuy nhiên ông T cho rằng trong số diện tích đất ông T đang quản lý, sử dụng có 380 m² đất cây lâu năm là được chuyển đổi từ đất ruộng cơ bản chia theo nhân khẩu của hộ gia đình ông. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh quá trình giao ruộng, dồn điền đổi thửa tại địa phương theo quy định để xác định 380m² đất cây lâu năm là đất hợp pháp của hộ gia đình ông T là đúng vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm đã xác định di sản thừa kế của cụ H1, cụ T4 còn lại là 400m² đất thổ và 39,4m² đất trồng cây lâu năm tại các thửa đất số 6914, tờ bản đồ số 2, bản đồ 1990 do ông T bà T1 đang quản lý sử dụng và diện tích 120m² đất ao tại thửa số 3913,tờ bản đồ số 2, bản đồ 1990 do ông L, bà V đang quản lý, sử dụng là đúng.
[2.5] Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm định và Hội đồng định giá đã định giá tài sản tranh chấp, các đương sự nhất trí không có ý kiến gì về giá trị tài sản, Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị tài sản tranh chấp là 4.326.813.000 đồng, cụ thể: 01 m², đất ở có giá 10.800.000đồng, 01 m², đất trồng cây lâu năm có giá 45.000 đồng, 01 m² đất ao có giá 42.000 đồng; Như vậy tổng giá trị di sản thừa kế là: (10.800.000đồng x 400) + (45.000đồng x 39,4) + (42.000 đồng x 120) = 4.320.000.000 đồng + 1.773.000 đồng + 5.040.000 đồng = 4.326.813.000 đồng là đúng quy định pháp luật.
[2.6]Về cách chia di sản thừa kế:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, thẩm định tại chỗ, đã căn cứ trên nguyện vọng của các đương sự và căn cứ quy định pháp luật để phân chia di sản thừa kế, cụ thể:
- Chia cho ông Phạm Xuân T 146,4m² đất gồm: 133,4m², đất ở và 13m² đất trồng cây lâu năm trong thửa đất số 3914, tờ bản đồ số 2, bản đồ 1990 mang tên T tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình có giá trị là 2.025.720.000đồng; trên đất có các tài sản của ông T bà T1 gồm: Nhà chính, sân, lán tôn. Diện tích đất này được ký hiệu là S3 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án và tứ cận cụ thể của diện tích đất như sơ đồ phân chia kèm theo bản án.
- Chia cho ông Phạm Văn L toàn bộ diện tích đất ao 120m², tại thửa đất số 3913, tờ bản đồ số 2, bản đồ 1990 mang tên Lại tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình có giá trị là 5.040.000đồng. Diện tích đất này được ký hiệu là S1 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án và độ dài tứ cận của diện tích đất này không xác định được, tứ cận của diện tích đất này tiếp giáp với các diện tích đất như sơ đồ thửa đất và sơ đồ phân chia kèm theo bản án. Ông L có nghĩa vụ thanh toán cho các ông L1, N, L2, T mỗi người 840.000 đồng là phần giá trị của 20m² đất ao được chia.
- Chia cho các ông Phạm Văn L1, Phạm Xuân L2 và Phạm Hải N tổng diện tích 292,8m² đất gồm: 266,8 m² đất ở và 26 m² đất trồng cây lâu năm có giá trị 2.882.610.000đồng. Trên đất có các tài sản sau: 131,6m2 nhà xưởng có giá trị 452.072.320đồng và 49m² lán tôn có giá trị là 13.034.000đồng của anh Phạm Văn H và chị Phạm Thị M xây dựng; 68,7m² nhà tôn phía sau + công trình phụ có giá trị 241.439.280đồng và 18,3m2 lán tôn có giá trị 4.867.800đồng và 19,6m2 nhà fiboro đã hết khấu hao do ông Phạm Xuân T và bà Phạm Thị T1 xây dựng. Do đó các ông L1, Như, Lời có trách nhiệm thanh toán cho anh Phạm Văn H và chị Phạm Thị M tổng giá trị tài sản trên đất của anh H và chị M là 465.106.320₫ (Bốn trăm sáu mươi lăm triệu một trăm linh sáu ngàn ba trăm hai mươi đồng) và thanh toán cho ông Phạm Xuân T và bà Phạm Thị T1 tổng giá trị tài sản trên đất của ông T, bà T1 là 246.307.080đ (hai trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm linh bẩy ngàn không trăm tám mươi đồng). Các ông L1, Lời, Như có trách nhiệm thanh toán cho ông L giá trị của 66,7 m² đất ở và 6,5 m² đất trông cây lâu năm là 720.652.500đồng. Đối trừ số tiền ông L phải thanh toán cho ông L2, Lạc N3 mỗi ông giá trị của 20 m², đất ao là 2.520.000đồng do đó các ông L1, Lời, N3 còn phải thanh toán cho ông L 718.132.500₫ (Bẩy trăm mười tám triệu một trăm ba mươi hai ngàn năm trăm đồng).
Ông T và các đương sự khác đều không có ý kiến gì về cách phân chia di sản thừa kế, vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm cần giữ nguyên cách phân chia di sản thừa kế như bản án sơ thẩm đã phân chia.
[2.7] Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên án phí đối với ông Phạm Xuân T đúng theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm cần giữ nguyên phần quyết định này.
[2.8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Xuân T. Ông T yêu cầu nguyên đơn bồi thường chi phí đi lại để tham gia vụ án, thu nhập thực tế bị mất do tham gia vụ án và chi phí mời luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là 03 tỷ đồng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét thụ lý đối với yêu cầu này nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đối với yêu cầu này.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông Phạm Xuân T không được chấp nhận, nên ông T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Xuân T, giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Áp dụng: Các Điều 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự năm 2015. Khoản 5 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 157, 165, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
1. Tuyên xử:
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu của các nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế của cụ Phạm H1 và cụ Trần Thị T4 theo quy định của pháp luật.
1.2 Xác định 380m², đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 3914 do ông Phạm Xuân T quản lý, sử dụng tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bìn theo bản đồ 1990 không phải là di sản thừa kế mà là đất của hộ gia đình nhà ông Phạm Xuân T (gồm ông T, bà Phạm Thị T1, chị Phạm Thị O (Răm), chị Phạm Thị T2 và chị Phạm Thị M). Diện tích đất này được ký hiệu là S4 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án và tứ cận cụ thể như sơ đồ phân chia kèm theo bản án.
1.2. Xác định di sản thừa kế của cụ Phạm H1 và Trần Thị T4 gồm: 400 m² đất ở và 39,4 m² đất trồng cây lâu năm hiện do ông Phạm Xuân T, bà Phạm Thị T1 quản lý, sử dụng và 120 m² đất ao do ông Phạm Văn L, bà Bùi Thị V quản lý, sử dụng tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tổng cộng di sản thừa kế có giá trị là 4.326.813.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm hai mươi sáu triệu tám trăm mười ba nghìn đồng).
- Chia cho ông Phạm Xuân T 146,4m² đất gồm: 133,4m², đất ở và 13m² đất trồng cây lâu năm trong thửa đất số 3914, tờ bản đồ số 2, bản đồ 1990 mang tên T tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình có giá trị là 2.025.720.000đồng; trên đất có các tài sản của ông T bà T1 gồm: Nhà chính, sân, lán tôn. Diện tích đất này được ký hiệu là S3 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án và tứ cận cụ thể của diện tích đất như sơ đồ phân chia kèm theo bản án.
- Chia cho ông Phạm Văn L toàn bộ diện tích đất ao 120m², tại thửa đất số 3913, tờ bản đồ số 2, bản đồ 1990 mang tên Lại tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình có giá trị là 5.040.000đồng. Diện tích đất này được ký hiệu là S1 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án và độ dài tứ cận của diện tích đất này không xác định được, tứ cận của diện tích đất này tiếp giáp với các diện tích đất như sơ đồ thửa đất và sơ đồ phân chia kèm theo bản án. Ông L có nghĩa vụ thanh toán cho các ông L1, N3, L2, T mỗi người 840.000 đồng là phần giá trị của 20m² đất ao được chia.
- Chia cho các ông Phạm Văn L1, Phạm Xuân L2 và Phạm Hải N tổng diện tích 292,8m² đất gồm: 266,8 m² đất ở và 26 m² đất trồng cây lâu năm có giá trị 2.882.610.000đồng. Trên đất có các tài sản sau: 131,6m² nhà xưởng có giá trị 452.072.320đồng và 49m² lán tôn có giá trị là 13.034.000đồng của anh Phạm Văn H và chị Phạm Thị M xây dựng; 68,7m² nhà tôn phía sau + công trình phụ có giá trị 241.439.280đồng và 18,3m2 lán tôn có giá trị 4.867.800đồng và 19,6m2 nhà fiboro đã hết khấu hao do ông Phạm Xuân T và bà Phạm Thị T1 xây dựng. Do đó các ông L1, Như, Lời có trách nhiệm thanh toán cho anh Phạm Văn H và chị Phạm Thị M tổng giá trị tài sản trên đất của anh H và chị M là 465.106.320₫ (Bốn trăm sáu mươi lăm triệu một trăm linh sáu ngàn ba trăm hai mươi đồng) và thanh toán cho ông Phạm Xuân T và bà Phạm Thị T1 tổng giá trị tài sản trên đất của ông T, bà T1 là 246.307.080đ (hai trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm linh bẩy ngàn không trăm tám mươi đồng). Các ông L1, Lời, Như có trách nhiệm thanh toán cho ông L giá trị của 66,7 m² đất ở và 6,5 m² đất trông cây lâu năm là 720.652.500đồng. Đối trừ số tiền ông L phải thanh toán cho ông L2, Lạc N3 mỗi ông giá trị của 20 m², đất ao là 2.520.000đồng do đó các ông L1, Lời, N3 còn phải thanh toán cho ông L 718.132.500₫ (Bẩy trăm mười tám triệu một trăm ba mươi hai ngàn năm trăm đồng).
Diện tích đất các ông Phạm Văn L1, Phạm Xuân L2 và Phạm Hải N được chia được ký hiệu là S2 của sơ đồ phân chia kèm theo bản án và tứ cận cụ thể của diện tích đất như sơ đồ phân chia kèm theo bản án.
2. Về án phí:
Các ông Phạm Văn L, Phạm Văn L1, Phạm Hải N, Phạm Xuân L2 được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Phạm Xuân T phải nộp 72.531.200đồng (Bẩy mươi hai triệu năm trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Xuân T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng ông T đã nộp theo biên lai số 0002468 ngày 12/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhân:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Hằng |
Bản án số 22/2024/DS-PT ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp chia di sản thừa kế tài sản
- Số bản án: 22/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Phạm Văn L, Phạm Văn L1, Phạm Hải N, Phạm Xuân L2 - Ông Phạm Xuân T
