|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/DS-ST
Ngày 02 tháng 7 năm 2024
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đính;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Mộng Loan
2. Bà Nguyễn Thị Lan
Thư ký phiên tòa: Ông Vương Tấn Lập – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Dung – Kiểm sát viên;
Trong ngày 24/4/2024 và ngày 02/7/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-DS, ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn H; Địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T; Địa chỉ: Làng K, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị M; Địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
2. Ông Trần Văn T1; Địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Trần Xuân T2; Địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn Hoàng Văn H trình bày: Năm 2007, ông Hoàng Văn H được bà Trần Thị M cho diện tích đất là 10.401,3m² tại thửa số 210, tờ bản đồ số 36 thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai để làm trồng cà phê, đến năm 2017 ông H và vợ là bà Nguyễn Thị Lan A mới kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số CH 994669 ngày 05/9/2017. Ngày 21/12/2021 thì ông H và vợ bà Lan A thoả thuận phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân và xác định quyền sử dụng đất nêu trên là tài sản riêng của ông H. Nguồn gốc thửa đất trên là do bà M nhận chuyển nhượng của ông Trần Xuân B vào khoảng năm 1990, diện tích khoảng 10.000m², sau đó bà M tiếp tục khai hoang thêm nên tổng số diện tích là khoảng 1,7ha (nay xác định là thửa số 181 và 182, tờ bản đồ số 36). Đến khoảng năm 1996 bà M chia thửa đất nói trên làm đôi cho ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị T để trồng cà phê, bà M sử dụng thửa đất 182, còn ông T1 và bà T sử dụng thửa 181. Khoảng năm 1999 - 2000 do giá cà phê xuống thấp nên ông T1 đi vào M làm ăn, còn bà T bỏ về quê sinh sống nên đã giao toàn bộ diện tích đất trên cho gia đình ông H quản lý, chăm sóc. Đến năm 2007 thì ông T1 và bà T trở về nhận lại diện tích cũ để tiếp tục canh tác. Khoảng năm 2009 - 2010 thì ông H có cho ông T1 mượn diện tích theo số liệu đo đạc là 732,8m² trong tổng số diện tích 10.401,3m² đất tại thửa số 210 giáp với thửa đất số 181 của ông T1 để trồng cà phê. Việc cho mượn đất không có lập văn bản hay giấy tờ gì, cũng không có người làm chứng. Năm 2009 ông T1 và bà T ly hôn thì ông H có đòi lại nhưng ông T1 nói đã trồng cà phê nên không trả lại được. Nay ông H căn cứ vào việc cho ông T1 mượn đất từ năm 2009 và phần diện tích đất đó ông H đã được Nhà nước công nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để yêu cầu bà T trả lại cho ông H diện tích 732,8m² đất, trong đó tại thửa số 210 có diện tích là 528,1m², phần đất giao thông có diện tích là 60m², phần đất thuộc thửa 279 là 144,7m², tờ bản đồ số 36, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
2. Bị đơn Nguyễn Thị T trình bày: Bà T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H. Diện tích đất ông H tranh chấp là một phần trong thửa số 81, tờ bản đồ số 36 thị trấn I của bà T và ông T1. Nguồn gốc diện tích đất trên là vào năm 1997 vợ chồng bà T nhận chuyển nhượng của ông Phạm Xuân B1. Sau khi nhận chuyển nhượng, năm 1998 thì vợ chồng bà T trồng cây cà phê. Đến năm 2000 do hoàn cảnh khó khăn nên vợ chồng bà T về quê, giao thửa đất và cây cà phê cho bà M là chị ông T1 đứng ra chăm sóc giúp. Đến năm 2008 thì vợ chồng bà T trở lại lấy diện đất trên làm tiếp, đến năm 2014 thì kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện I cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 524297 ngày 08/9/2014 và xác định diện tích là 10.063,8m² tại thửa số 81, tờ bản đồ số 36, không hiểu vì lý do gì mà khi đo đạc lại thiếu phần đất 732,8m² nói trên. Đến ngày 02/6/2009 thì bà T và ông T1 ly hôn. Đến năm 2016 thì bà T phát hiện một phần diện tích đất đang sử dụng được cấp bìa đỏ cho bà M, do đó ngày 13/7/2016 tại U xác định việc bà M được cấp bìa là sai nên thị trấn hoà giải để thu hồi bìa của bà M, giữ lại bìa của bà T. Cũng tại buổi hoà giải này phần diện tích đất tranh chấp ông H yêu cầu thị trấn giải quyết thì Chủ tịch UBND thị trấn nói gọi ông T2 là anh của bà M và ông T1 đến để tự giải quyết vì diện tích nhỏ. Đến ngày 23/7/2016 bà T và ông T1 chia tài sản khi ly hôn, ông T1 giao thửa đất trên cho bà T sử dụng cho đến nay. Đến tháng 10/2022 thì bà T nhổ toàn bộ số cà trồng năm 1998 để trồng mới thì ông H đến tranh chấp đòi lại đất. Vợ chồng bà T chưa bao giờ mượn đất của ông H, phần diện tích đất bà T sử dụng bao gồm cả phần ông H kiện nguồn gốc do nhận chuyển nhượng từ ông B1, ranh giới sử dụng đất đã rõ ràng, bà T sử dụng trồng cà phê còn bà M sử dụng trồng bời lời, sau đó cho bà M cho ông H cũng không làm gì để đất trống đến bây giờ. Khi kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có ông H ký giáp ranh, tại thời điểm đó phần diện tích tranh chấp bà T vẫn đang sử dụng trồng cây cà phê, phần đất của ông H thì trồng bời lời, ranh giới đất đã cụ thể rõ ràng, không ai lấn chiếm của ai.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị M trình bày: Bà M là mẹ ruột của ông H. Diện tích 10.401,3m² đất tại thửa số 210, tờ bản đồ số 36 thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai có nguồn gốc trước đây do bà M khai hoang và một phần nhận chuyển nhượng của ông Trần Xuân B từ khoảng năm 1992 - 1993. Sau đó bà M trồng cây cà phê, một phần không trồng gì. Năm 2007 thì bà M để lại cho con là ông H làm. Thực tế vào khoảng năm 1990 bà M nhận chuyển nhượng của ông B diện tích khoảng 10.000m², sau tiếp tục khai hoang thêm nên tổng số diện tích là khoảng 1,7ha. Đến khoảng năm 1999, bà M chia cho ông T1 và bà T một nửa diện tích đất để trồng cà phê. Khoảng năm 2002 ông T1 đi vào M làm ăn, còn bà T bỏ về quê sinh sống nên đã nhờ bà M trông nom diện tích trên. Năm 2007 thì ông T1 và bà T trở về nhận lại diện tích cũ để tiếp tục canh tác. Diện tích đất ông H tranh chấp là do ông T1 và bà Thủy canh t trồng cà phê từ năm 1999 cho đến nay. Bà M không nhớ rõ năm nào, sau khi ông T1 và bà T nhận lại đất thì có nói với bà M cho mượn diện tích khoảng chưa đến 01 sào (1000m²) đất nằm ở phần đất khai hoang là phần đất ông H đang sử dụng để trồng cà phê. Tuy nhiên việc cho mượn không có giấy tờ gì, cũng không ai chứng kiến. Khoảng năm 2007 bà M đã cho ông H toàn bộ đất ở khu vực đó, nay ông H kiện đòi đất thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, bà M không liên quan, cũng không có ý kiến gì.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn T1 trình bày: Ông T1 với bà T trước đây là vợ, chồng nhưng đã ly hôn từ năm 2009. Nguồn gốc diện tích đất trên là vào khoảng năm 1998 ông T1 và bà T trả tiền công khai hoang rồi nhận bàn giao đất của ông Phạm Xuân B1. Năm 1998 thì ông T1 và bà T trồng cây cà phê. Năm 2009 do mâu thuẫn nên ông T1 với bà T ly hôn nhưng vẫn làm chung thửa đất trên. Năm 2014 bà T đứng ra kê khai đất và được Ủy ban nhân dân huyện I cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 524297 ngày 08/9/2014 và xác định diện tích là 10.063,8m² tại thửa số 81, tờ bản đồ số 36. Đến năm 2016 thì phát hiện phần diện tích đất bà T đang sử dụng cũng được cấp bìa đỏ cho bà M, do đó ngày 13/7/2016 tại Ủy ban nhân dân thị trấn I hoà giải xác định việc bà M được cấp bìa là sai nên hoà giải để thu hồi bìa của bà M, giữ lại bìa của T và bà M cam kết không tranh chấp đất với bà T. Ngày 23/7/2016 ông T1 với bà T thoả thuận là ông T1 giao toàn bộ diện tích đất trên cho bà T được toàn quyền sử dụng để nuôi các con. Ông T1 khẳng định phần diện tích mà ông H tranh chấp với bà T là không đúng, vì phần diện tích đó là một phần trong tổng số diện tích đất mà ông T1 và bà T đã nhận chuyển nhượng của ông B1 từ năm 1997, đến năm 2008 thì trồng cà phê canh tác liên tục cho đến năm 2022 thì bà T nhổ bỏ cà phê cũ để trồng mới. Ông T1 và bà T chưa bao giờ mượn đất của ông H, nên việc ông H kiện đòi lại đất là không có cơ sở, không đúng thực tế.
5. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập các tài liệu, chứng cứ: 01 bản sao Biên bản hòa giải của Ủy ban nhân dân thị trấn I ngày 01/3/2023; 01 bản sao Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 994669 do Ủy ban nhân dân huyện I cấp ngày 05/9/2017; 01 bản sao Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án; 01 bản sao Văn bản thỏa thuận về tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân; 01Đơn xin xác nhận; Hồ sơ cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 994669 do Uỷ ban nhân dân huyện cấp ngày 05/9/2017 đối với thửa đất số 210, tờ bản đồ 36, địa chỉ thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai cho ông Hoàng Văn H và bà Nguyễn Thị Lan A; Hồ sơ cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 524297 do Uỷ ban nhân dân huyện cấp ngày 08/9/2014 đối với thửa đất số 181, tờ bản đồ 36, địa chỉ thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai cho bà Nguyễn Thị T; Biên bản định giá ngày 08/6/2023; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08/6/2023; Biên bản lấy lời khai người làm chứng ông Trần Xuân T2; Biên bản lấy lời khai ông Hoàng Văn H ngày 14/7/2023; Biên bản lấy lời khai bà Nguyễn Thị T ngày 17/7/2023; Biên bản lấy lời khai bà Trần Thị M ngày 14/8/2023; Biên bản lấy lời khai của ông Trần Văn T1 ngày 27/7/2023; Công văn số 205/UBND ngày 27/11/2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn I; Biên bản hòa giải ngày 13/7/2016 của Ủy ban nhân dân thị trấn I; Phiếu yêu cầu xoá đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
6. Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát khẳng định trong quá trình giải quyết vụ án những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Tại phiên tòa Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến trước khi nghị án; Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn phù hợp với quy định của pháp luật, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai được quy định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Ông Hoàng Văn H cho rằng khoảng năm 2009 - 2010 thì ông H có cho ông T1 bà bà T mượn phần đất theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ có diện tích là 732,8m² trong đó tại thửa số 210 có diện tích là 528,1m², phần đất giao thông có diện tích là 60m², phần đất thuộc thửa 279 là 144,7m², các thửa đất thuộc tờ bản đồ số 36, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai để trồng cà phê và ông H cũng đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nói trên. Ông H đã yêu cầu ông T1, bà T trả lại đất nhưng họ không trả nên ông H khởi kiện yêu cầu bà T trả lại phần diện tích đất cho mượn nói trên.
Theo hồ sơ địa chính do Ủy ban nhân dân huyện I, Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh G – Chi nhánh huyện I và Ủy ban nhân dân thị trấn I cung cấp, phần đất tranh chấp đã được Ủy ban nhân dân huyện I cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 994669 ngày 05/9/2017, thuộc thửa đất số 210, tờ bản đồ 36, địa chỉ thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai cho ông Hoàng Văn H và bà Nguyễn Thị Lan A. Bà Nguyễn Thị T chưa được cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này.
Đánh giá chứng cứ, Hội đồng xét xử thấy rằng, ông H không cung cấp được chứng cứ nào thể hiện việc có cho ông T1 và bà T mượn đất đối với phần đất tranh chấp. Lời khai của bà M tại biên bản hoà giải ngày 13/7/2016 cũng thể hiện khi làm thủ tục cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất đã kê khai vào phần đất của bà T và đồng ý giao lại Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất để Ủy ban nhân dân huyện I để làm thủ tục huỷ Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất. Người làm chứng là ông T2 là người thân thích với cả hai bên đương sự và khách quan nhất cũng khẳng định phần đất tranh chấp do ông T1, bà T đã sử dụng trồng cây cà phê từ năm 1998 cho đến nay, bà M không sử dụng phần diện tích đất tranh chấp này. Như vậy đã có đủ căn cứ để khẳng định phần đất tranh chấp là của bà T, ông H không có quyền sử dụng đối với phần đất này. Đương sự không có yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông H nên Hội đồng xét xử không xem xét, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ căn cứ vào bản án của Toà án để thực hiện việc thu hồi, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
[3] Từ những phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng có đủ căn cứ để khẳng định ông Hoàng Văn H là người không có quyền sử dụng đất tại thửa đất tranh chấp và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị T trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích là 732,8m² trong đó tại thửa số 210 có diện tích là 528,1m², phần đất giao thông có diện tích là 60m², phần đất thuộc thửa 279 là 144,7m², các thửa đất thuộc tờ bản đồ số 36, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai.
[4] Về chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 157, 164 của Bộ luật Tố tụng Dân sự buộc ông Hoàng Văn H phải chịu toàn bộ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là 19.864.454 đồng. Ông Hoàng Văn H đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng.
[5] Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về việc đòi lại tài sản cho mượn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự .
- Áp dụng Điều 166, Điều 175 của Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 166, Điều 170, Điều 202, Điều 203 của Luật Đất đai.
- Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn H về việc buộc bà Nguyễn Thị T phải trả lại cho ông Hoàng Văn H thửa đất có diện tích là 732,8m² trong đó phần đất thuộc thửa số 210 có diện tích là 528,1m², phần đất giao thông có diện tích là 60m², phần đất thuộc thửa 279 là 144,7m², các thửa đất thuộc tờ bản đồ số 36, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. (Có sơ đồ lồng ghép ranh giới hiện trạng sử dụng đất và bản đồ địa chính kèm theo)
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền để được điều chỉnh, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Buộc ông Hoàng Văn H phải chịu toàn bộ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là 19.864.454 đồng (mười chín triệu tám trăm sáu mươi bốn nghìn bốn trăm năm mươi bốn đồng). Ông Hoàng Văn H đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng.
Buộc ông Hoàng Văn H phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Hoàng Văn H đã nộp là 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), hoàn trả lại cho ông Hoàng Văn H 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008848 ngày 05 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đính |
Bản án số 22/2024/DS-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 22/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi đất cho mượn
