Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG HINH

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2023/HSST

Ngày: 17-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Lưu Chúc.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Ksor Y Thư.

- Bà Trần Thị Thuý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mạy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.

· Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Sơn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 với bị cáo:

Phan Văn H; sinh ngày 12 tháng 10 năm 1999 tại: Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn E, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Phan Văn S, sinh năm 1961 (đã chết) và bà Cao Thị N, sinh năm 1964; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

* Người bị hại: Chị Phạm Thị H1, sinh năm 2001. Trú tại: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt có đơn xin xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Đình P, sinh năm 1992. Địa chỉ: Khu phố G, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt có đơn xin xử vắng mặt.
  2. Anh Phạm Văn T, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn E, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  3. Anh Phan Văn N1, sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  4. Anh Đặng Thanh L, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  5. Anh Trần Khánh T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Khu phố F, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 24/5/2023, trong lúc dự đám cưới tại nhà anh Nguyễn Văn H2 tại thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên, Phan Văn H ngồi chung bàn với chị Phạm Thị H1 và một số người khác, lợi dụng lúc chị H1 sơ hở, H lén lút trộm cắp của chị H1 một điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu hồng có gắn thẻ sim điện thoại V đang để trong túi sách rồi H tắt nguồn điện thoại để tránh phát hiện. Sau đó H cùng Phan Văn N1, Đặng Thành L1, Phạm Văn T, Trần Khánh T1 ra hát karaoke tại quán T3 ở thị trấn H, cả nhóm hát được một lúc thì T, T1, L1 bỏ về trước, HN1 ở lại tiếp tục hát được một lúc thì tính tiền, do không có tiền nên H mượn xe biển số 78M1-147.41 của chị Nguyễn Thị Kim H3 nói dối đi mượn tiền về trả, trên đường đi Hiệp tháo sim điện thoại di động ném trên đường và đem điện thoại trộm cắp đến cửa hàng Đ ở thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên để bán, anh P chụp lại hình ảnh của H để nhận dạng và lấy cớ ra ngoài để báo cho anh Nguyễn Văn H2 Biết nhưng không liên lạc được, sợ H đem điện thoại đi chỗ khác bán, anh P giữ lại điện thoại và đưa cho H 5.000.000 đồng, H quay lại trả quán karaoke 2.500.000 đồng, số tiền còn lại khi về phòng trọ chị H3 chơi, H giấu trên nóc tủ quần áo. Sau khi H rời đi, anh P gọi điện thoại cho anh H2 và gửi hình ảnh của H, anh H2 nhận dạng ra H nên báo công an xã S mời H về trụ sở làm việc và thu giữ vật chứng.

Kết luận giám định số 24/KL-HĐĐGTS ngày 06/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện S kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, Dung lượng 128G, màu hồng trị giá 13.084.000 đồng.

Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 11/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm.
  • Về trách nhiệm dân sự: Không.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Trả lại cho chị Phạm Thị H1 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 13, dung lượng 128G màu hồng đã qua sử dụng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2023 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh).
  • Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

* Bị cáo trình bày: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

* Người bị hại có đơn xin xử vắng mặt trình bày: Yêu cầu nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu gì khác và đề nghị giảm nhẹ cho bị cáo.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đình P có đơn xin xử vắng mặt trình bày: Anh P mua điện thoại từ bị cáo vì nghi ngờ tài sản trộm cắp, nhằm mục đích giữ lại tài sản và nhận diện đối tượng để báo cơ quan chức năng xử lý, đã nhận lại số tiền 5.000.000 đồng nên không có yêu cầu gì khác.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn T, Phan Văn N1, Đặng Thành L1, Trần Khánh T1 vắng mặt trình bày trong hồ sơ: Không biết, không tham gia vào việc trộm cắp tài sản.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, tuân thủ đầy đủ theo quy định của thủ tục tố tụng về thu thập tài liệu, chứng cứ của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 14h 30 phút ngày 24/5/2023, trong lúc ngồi ăn đám cưới tại nhà anh Nguyễn Văn H2 tại thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên, Phan Văn H lén lút trộm cắp của chị Phạm Thị H1 01 điện thoại hiệu Iphone 13, màu hồng trong túi sách được đặt trên đùi chị H1. Bị cáo tắt nguồn để tránh bị phát hiện. Sau đó, rủ một số người đi hát karaoke tại quán Tâm T2 tại thị trấn H, huyện S. Khi không có tiền thanh toán, bị cáo đem bán điện thoại trộm cắp cho cửa hàng Đ tại Khu phố F, thị trấn H, huyện S với giá 5.000.000 đồng, trả tiền hát karaoke 2.500.000 đồng, số tiền còn lại đem về chỗ ở của chị H3 tại Khu phố E, thị trấn H cất giấu.

Kết luận giám định số 24/KL-HĐ ĐGTS ngày 06/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện S kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, Dung lượng 128G, màu hồng trị giá 13.084.000 đồng.

Như vậy, bị cáo đã phạm vào tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Đối với hành vi mua điện thoại di động của anh P nhằm giữ tài sản nghi ngờ trộm cắp và giúp nhận diện đối tượng phạm tội báo cơ quan chức năng xử lý nên không phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, đã bồi thường cho người bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Chỉ vì động cơ vụ lợi, để có tiền ăn chơi mà bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của công dân. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù vì người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Không.

[6] Về xử lý vật chứng: Trả lại tài sản bị trộm cắp cho bị hại 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 13, dung lượng 128G màu hồng đã qua sử dụng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2023 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “trộm cắp tài sản”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Phan Văn H 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án.
  • + Giao bị cáo Phan Văn H cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 và 68 Luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
  • + Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Không.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Trả lại cho chị Phạm Thị H1 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 13, dung lượng 128G màu hồng đã qua sử dụng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2023 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh).
  • - Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Phan Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND H.Sông Hinh;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Công an H.Sông Hinh;
  • - Bị cáo, người bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Lưu Chúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2023/HSST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 22/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger