|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2023/DS -PT.
Ngày 21 - 11 - 2023.
V/v: “Kiện chia di sản thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn San.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Trưởng và bà Nguyễn Thị Mai Hương.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 27/2023/TLPT - DS ngày 09/10/2023, về việc kiện chia di sản thừa kế.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 09/2023/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Minh T, sinh năm 1950; địa chỉ: Số nhà B, tổ I, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- + Bà Phan Thị Thùy L, sinh năm 1983 (là con gái bà T); địa chỉ: G M15TT M, phường B, quận H, thành phố Hà Nội, có mặt.
- + Bà Nguyễn Thị Phương L1, sinh năm 1981, có mặt.
- + Ông Bùi Gia D, sinh năm 1987, có đơn xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: P 2005, tòa nhà L, số A đường K, phường N, quận T, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn:
- Ông Trần Đức D1, sinh năm 1956, có mặt.
- Ông Trần Văn T1, sinh năm 1962, có mặt.
- Ông Trần Hữu Đ, sinh năm 1968, có mặt.
Cùng địa chỉ: số A đường B, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Đại N, sinh năm 1964, có đơn xin vắng mặt.
- Bà Vũ Thị Tuyết S, sinh năm 1961 (tên gọi khác là H), có mặt.
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1968, có mặt.
- Bà Trần Thị T3, sinh năm 1970, vắng mặt.
- Bà Đoàn Thị T4, sinh năm 1975, vắng mặt.
- Anh Trần Trung H1, sinh năm 2000, vắng mặt.
- Anh Trần Hồng V, sinh năm 1991, vắng mặt.
- Anh Trần Sơn H2, sinh năm 2000, vắng mặt.
- Chị Trần Bích N1, sinh năm 2001, vắng mặt.
- Chị Trần Thị Cẩm L2, sinh năm 1999, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số A đường B, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam.
- Bà Trần Thị P, sinh năm 1960; địa chỉ: Số B đường L, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam, có mặt.
- Chị Trần Minh P1, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT: Số A đường B, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.
- Chi cục Thuế khu vực P3; địa chỉ: Số C đường B, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thu P2, vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân phường M, thành phố P; địa chỉ: Số E đường B, thành phố P, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Đức D1, ông Trần Văn T1 và ông Trần Hữu Đ. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bố mẹ của bà T là cụ Trần Văn D2 và cụ Nguyễn Thị C sinh được 6 người con chung gồm: Bà Trần Minh T, sinh năm 1950, ông Trần Đức D1 sinh năm 1956, bà Trần Thị P sinh năm 1960, ông Trần Văn T1 sinh năm 1962, ông Trần Đại N sinh năm 1964, ông Trần Hữu Đ sinh năm 1968. Cụ C và cụ D2 không có con nuôi, con riêng nào khác.
Cụ Nguyễn Thị C chết năm 1986, cụ Trần Văn D2 chết năm 2016, các cụ khi chết không để lại di chúc.
Quá trình chung sống cụ D2 và cụ C tạo lập thửa đất số 120, tờ bản đồ số 3, diện tích 226m², địa chỉ: phường M, thành phố P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994 mang tên cụ D2 để cả gia đình sinh sống. Bà T cùng bố mẹ xây hai căn nhà cấp bốn tại thửa đất này. Sau đó bà đi xây dựng gia đình rồi thoát ly lúc ở Hà Nội, khi ở S nhưng vẫn thường xuyên qua lại chăm sóc bố, mẹ và các em. Trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến năm 2014, cụ D2 và các em tháo dỡ căn nhà trên rồi xây dựng lại thành 04 căn nhà kiên cố nhiều tầng và được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014 cho cụ Trần Văn D2 tại thửa đất số 120, tờ bản đồ số 3, diện tích 239,6 m² (sau đây gọi tắt là thửa số 120). Hiện trạng trên thửa đất các em trai bà cùng gia đình đang sinh sống gồm: Ông Trần Văn T1 cùng vợ là bà Trần Thị T5, con là: Trần Hồng V, Trần Sơn H2 ở tại căn nhà có diện tích khoảng 64m²; ông Trần Hữu Đ cùng vợ là bà Đoàn Thị T4, các con là Trần Bích N1, Trần Bích T6 ở tại căn nhà có diện tích khoảng 53m², ông Trần Đức D1 cùng vợ là bà Vũ Thị Tuyết S (tên gọi khác là H), con là: Trần Minh P1, Trần Trung H1 ở tại căn nhà có diện tích khoảng 67,8m²; ông Trần Đại N cùng vợ là bà Trần Thị T3, con là: Trần Cẩm T7, Trần Thị Cẩm L2 ở tại căn nhà có diện tích là 54m².
Ngoài di sản kể trên thì cụ C và cụ D2 không để lại di sản nào khác.
Ngày 21/11/2018, Hội đồng định giá tài sản thành phố P đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá thửa đất nói trên trị giá 35.000.000đ/m². Tuy nhiên, bà T sau khi tham khảo giá thị trường đã làm đơn khiếu nại yêu cầu định giá lại đối với thửa đất trên. Tại biên bản định giá tài sản ngày 22/3/2021, Hội đồng định giá lại tài sản xác định 01m² đất ở tại thửa đất số 120, tờ bản đồ số 3 là 88.310.000đ. Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 120, tờ bản đồ số 3, địa chỉ: phường M, thành phố P, diện tích 239,6 m² hiện đang được Ủy ban nhân dân (UBND) phường M quản lý, do các con của cụ D2 chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính với tổng số tiền là 136.680.000đ, trong đó gồm 136.000.000đ tiền sử dụng đất và 680.000đ lệ phí trước bạ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nguyên đơn bà Trần Minh T có yêu cầu: Do không biết cụ thể tài sản và công sức của bố mẹ để lại trong khối tài sản gắn liền trên đất như thế nào nên bà đề nghị chỉ chia di sản của bố mẹ để lại theo pháp luật là thửa đất số 120, tờ bản đồ số 3, diện tích 239,6m², địa chỉ phường M, thành phố P bằng tiền sau khi trừ đi nghĩa vụ tài chính phải nộp cho cơ quan quản lý đất đai và chia đều cho 06 người con theo pháp luật.
- Bị đơn ông Trần Đức D1 trình bày: Bố mẹ ông là cụ Trần Văn D2 và cụ Nguyễn Thị C sinh được 6 người con gồm bà Trần Minh T, ông Trần Đức D1, bà Trần Thị P, ông Trần Văn T1, ông Trần Đại N và ông Trần Hữu Đ. Ngoài ra không có con nuôi, con riêng. Năm 1968, bố mẹ ông có mua một mảnh đất, diện tích 226m², tờ bản đồ số 16, thửa số 142 là đất ở lâu dài, lúc đó anh, em ông còn nhỏ và ở chung với bố mẹ. Đến năm 1986, anh em ông lớn lên và lần lượt xây dựng gia đình. Khi mẹ ông mất, bố ông và bà T đã chia và chỉ cho anh, em ông tách ở cho từng người riêng biệt. Chia cho ông ở đầu mảnh đất chiều mặt 3,2m, chiều sâu 20m, cạnh phía Tây là giáp nhà ông P1, tiếp cạnh ông là em trai Trần Hữu Đ chiều mặt 3,2m, chiều sâu 20m. Nối tiếp đến em trai ông là Trần Văn T1 chiều mặt 3,2m, chiều sâu 20m. Cuối cùng em trai ông là Trần Đại N, chiều mặt 3,2m, chiều sâu 20m. Bố tôi (cụ D2) có nói với sáu người con, bố chỉ cho ở chứ không được bán cho nên cụ D2 không tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng cho từng người, vì tách riêng như vậy cụ D2 sợ anh em ông bán đi mất. Cụ D2 đã giao cho ông cầm và quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và dặn không được đưa và ký cho các em ông bán. Giờ cả 4 anh em trai ông đã làm 4 cái nhà kiên cố và vẫn cùng chung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Trần Văn D2 và cùng chung một số nhà 172 nhưng hộ khẩu thì tách riêng từng gia đình.
Từ năm 1989, cụ D2 tuổi già sức yếu không còn sức khỏe lao động được. Bà T đã phân công bốn anh em trai ông chăm nuôi cụ D2. Đến năm 2010, cụ D2 già yếu không đi lại được thì vợ chồng ông đón cụ về ở hẳn với vợ chồng ông, còn ba anh em trai cùng hỗ trợ đóng góp mỗi người 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) để vợ chồng ông chăm sóc bố tuổi già.
Năm 2014, vợ chồng ông tiết kiệm cùng con lớn đi làm hỗ trợ và vay mượn thêm nên vợ chồng ông cùng con xây dựng lại ngôi nhà kiên cố 4 tầng.
Ngôi nhà xây xong cụ D2 đã ở với vợ chồng ông và các con của ông những năm cuối của tuổi già. Đến năm 2016, cụ D2 đã mất tại nhà của vợ chồng ông. Bốn anh em ông tập trung làm tang lễ đầy đủ, xây mộ hoàn chỉnh và chu đáo cho bố.
Bà T không chăm sóc và phụng dưỡng cụ D2 một ngày nào, không đóng góp ma chay cho cụ D2.
Lúc anh, em ông làm nhà bà T đồng ý cho các em xây dựng, không ngăn cản và lúc cụ D2 còn sống bà T không đòi chia tài sản. Cụ D2 còn sống chắc là cụ không bao giờ chia cho bà T, mà đến lúc cụ mất đi bà T mới giở trò kiện tụng và đòi chia di sản phần của cụ D2.
Ngày 09/5/2018 (âm lịch) là ngày giỗ lần thứ 2 của cụ D2, bà T đã đề xuất với anh em ông phải chia tiền cho bà T phần di sản của cụ D2.
Anh em ông đã thống nhất với bà T là để ở chứ không bán. Anh em trai gọi là có phần hương thơm của bố mẹ cho hai bà con gái, mỗi người con trai đóng góp 100.000.000đ, bốn anh, em tổng là 400.000.000đ để gửi cho hai người con gái của cụ D2, mỗi người 200.000.000đ nhưng bà T không đồng ý, bà T đòi chúng tôi phải đưa cho bà 1.200.000.000đ. Vì điều kiện cũng như hoàn cảnh của mấy anh em trai hiện giờ cũng tuổi cao, sức yếu không còn sức khỏe để lao động, đi bộ đội về gần 10 năm cũng chẳng có lương, sống phụ thuộc vào sự hỗ trợ của con cho nên không đáp ứng được yêu cầu của bà T đòi hỏi thì anh em ông cũng đành chấp thuận để cho bà T thuê luật sư Hà Nội và đưa đơn ra Tòa khởi kiện anh em ông (trong khi đó bà T còn có điều kiện kinh tế hơn anh em ông. Hiện bà T có 02 nhà tại số B và 202 đường L, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam và còn hai thửa đất di dân tại phường T).
Còn bà Trần Thị P là em gái ông hiện đang ở số B đường L, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Bà P cũng nói với anh em ông là bố mẹ mất đi chẳng để lại của cải gì cả, có mỗi mảnh đất nhà đông anh, em nên bảo nhau chia ra để ở vì cũng hẹp, bà P thôi không đòi hỏi chia và cũng không kiện tụng gì, còn nếu như ai mà bán đi thì phải chia cho hai chị, em gái.
Bốn anh em ông cũng thực hiện như lời cụ D2 dặn có cả hai bà con gái cũng nghe thấy lời dặn và ý nguyện của cụ D2. Anh em phải ở cùng nhau đất của bố mẹ để còn thờ cúng ông, bà, tổ tiên vì cụ D2 là con trưởng.
· Quan điểm của bị đơn ông Trần Hữu Đ: Giá trị thửa đất nêu trên theo khung giá nhà nước chỉ có 10.000.000đ/m², toàn bộ thửa đất là 239,6m² được chia làm hai, cụ D2 ½, cụ C ½. Cụ D2 mất năm 2016, cụ C mất năm 1986 đã hơn 30 năm nên thời hiệu khởi kiện đã hết, vậy đề nghị chia phần di sản của cụ D2 trị giá là 1.200.000.000đ và chia đều cho 06 người con chung, mỗi người con được 200.000.000đ. Do 04 anh em trai hiện đang ở trên thửa đất này nên có trách nhiệm trả cho hai chị gái là bà P và bà T, mỗi người 200.000.000đ. Nếu 1 trong 4 người con trai (ông D1, ông T1, ông N, ông Đ) bán nhà gắn liền với một phần đất đã xây dựng thì có trách nhiệm trả thêm cho bà T và bà P. Đối với 04 ngôi nhà của 04 anh em trai do các ông xây dựng nên thuộc quyền sở hữu của các ông, đối với diện tích mà ông đang sử dụng là 53,2m² chỉ để ở chứ không bán. Trường hợp bà T không thỏa thuận được đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
- Quan điểm của ông T1: Khi cụ D2 còn sống thì đã phân chia cho 04 anh em trai nên các ông mới xây dựng nhà được. Ngoài ra không có ý kiến gì khác.
- Về công sức trông nom, phụng dưỡng, ma chay các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về trông nom, quản lý di sản: Ông D1 và bà S nộp thuế từ năm 2012 đến năm 2022 theo tài liệu UBND phường M và cơ quan thuế cung cấp.
- UBND phường M có quan điểm: Hộ ông Trần Văn D2 được UBND thành phố cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 120, tờ bản đồ số 3, diện tích 239,6m², địa chỉ phường M, thành phố P mang tên hộ ông Trần Văn D2. Nghĩa vụ tài chính hộ ông D2 phải thực hiện là 136.680.000đ, trong đó bao gồm 136.000.000đ tiền sử dụng đất và 680.000đ lệ phí trước bạ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, hộ ông D2 chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với thửa đất trên do vậy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn do UBND phường M quản lý. Số tiền thuế nộp hàng năm từ 2012 đến 2022 là 11.137.620đ do vợ chồng ông D1, bà S nộp.
- Chi cục thuế P3 cung cấp: Tổng số tiền sử dụng đất hộ ông D2 phải nộp là 136.000.000đ; lệ phí trước bạ là 680.000đ trong đó số tiền chậm nộp tiền sử dụng đất mang tên ông D2 phải nộp từ ngày 29/5/2014 đến ngày 29/8/2023 là 160.093.896đ; số tiền sử dụng đất và tiền chậm nộp đến ngày 29/8/2022 tổng là 296.773.896đ; T8 thuế ông D1, bà S nộp hàng năm, từ năm 2012 đến năm 2023 là 11.137.620đ, việc phát sinh tiền chậm nộp do Luật thuế quy định.
Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2023/DS-ST, ngày 29/8/2023, Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý đã quyết định:
Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; các Điều 92, 147, 157, 158, 165, 166, 184, 185, 271, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 100, 167, 168 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Luật Hôn nhân Gia đình năm 1959;
Căn cứ 610, 611, 612, 613, 614, 616, 618, 621, 623, 649, 650, 651, 660, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ án lệ số 26 công bố tại Quyết định số 269 ngày 06/11/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật thanh toán bằng tiền của nguyên đơn.
- Công nhận cụ Nguyễn Thị C chết ngày 10/01/1986, cụ Trần Văn D2 chết ngày 13/6/2016. Cả hai cụ khi chết không để lại di chúc.
- Xác định người hưởng thừa kế theo pháp luật của cụ D2 và cụ C gồm: Ông Trần Đức D1, ông Trần Văn T1, ông Trần Đại N, ông Trần Hữu Đ, bà Trần Minh T và bà Trần Thị P.
- Công nhận di sản của cụ Trần Văn D2 và cụ Nguyễn Thị C là 239,6m2(ODT) tại thửa số 120, ngoài ra không có tài sản nào khác.
- Xác định nghĩa vụ thanh toán từ di sản gồm:
- Tiền sử dụng đất: 136.000.000đ; tiền lệ phí trước bạ 680.000đ; tiền chậm nộp hai khoản này từ ngày 29/5/2015 đến ngày 29/8/2023 là: 160.093.896đ. Tổng là 296.773.896đ. Ông D1, ông T1, ông N và ông Đ mỗi ông phải nộp 74.193.474₫ (bẩy mươi bốn triệu một trăm chín mươi ba nghìn bốn trăm bẩy mươi tư đồng).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (30/8/2023) nếu chậm nộp thì phải chịu lãi theo Luật thuế của cơ quan thuế có thẩm quyền quy định nghĩa vụ nộp thuộc ông D1, ông T1, ông N và ông Đ phải chịu.
- Nghĩa vụ nộp thuế hàng năm từ năm 2012 đến năm 2022 ông D1 và bà S đã nộp. Nay ông T1, ông N và ông Đ phải nộp hoàn trả ông D1, bà S mỗi người là: nộp 2.784.400₫ (làm tròn 2.784.000đ). Kể từ năm 2023 nghĩa vụ nộp thuế hàng năm của các ông D1, N, T1, Đ thực hiện theo quy định của cơ quan Thuế có thẩm quyền.
- Phương thức nộp: Căn cứ văn bản số 1197 ngày 23/8/2023 của Chi cục thuế khu vực P3 - K, người có nghĩa vụ nộp tại Ủy ban nhân dân phường M (để chuyển Chi cục thuế khu vực P - K) hoặc nộp tại các Ngân hàng thương mại.
- Các ông D1, ông T1, ông N và ông Đ mỗi ông phải thanh toán kỷ phần thừa kế bằng tiền cho bà Trần Minh T là: 868.798.520đ, làm tròn là 868.799.000đ (tám trăm sáu mươi tám triệu bẩy trăm chín mươi chín nghìn đồng).
Bà Trần Thị P là: 868.798.520đ, làm tròn là 868.799.000đ (tám trăm sáu mươi tám triệu bẩy trăm chín mươi chín nghìn đồng).
Sau khi thực hiện xong các nghĩa vụ kể trên giao các ông D1, ông T1, ông N và ông Đ được sử dụng chung thửa đất số 120 theo quy định của pháp luật, mỗi người hường ¼ giá trị thửa đất. Các đương sự thực hiện nghĩa vụ đăng ký đất đai tại cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai theo quy định của pháp luật.
- Các ông có tên trên cùng vợ con tiếp tục được quản lý, sở hữu và sử dụng nhà kiên cố và vật kiến trúc đã xây dựng, tôn tạo trên thửa số 120 kể trên.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản bà T đã nộp tạm ứng và thanh toán xong số tiền 29.650.000 đồng; đồng thừa kế còn lại gồm bà phúc, ông D1, ông T1, ông Đ, ông N phải nộp hoàn trả bà T, mỗi người phải nộp 4.941.666 đồng làm tròn 4.942.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án thì các khoản tiền chậm trả thanh toán kỷ phần chia di sản, tiền chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản, tiền thuế hàng năm ông D1 bà S đã nộp. Nếu chậm trả tiền thì bên phải thi hành án còn phải chịu lãi tương ứng số tiền và thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại Điều 365, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Giao Ủy ban nhân dân phường M quản lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT955036 cấp ngày 28/4/2014 mang tên “ông Trần Văn D2” đối với thửa số 120. Khi các đương sự hoàn thành nghĩa vụ tài chính, cơ quan có thẩm quyền về đăng ký biến động đất đai có yêu cầu thì Ủy ban nhân dân phường M thực hiện việc bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho chủ sử dụng đất, cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai.
- Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm ông N và ông Đ mỗi người phải nộp là 101.504.000đ (một trăm linh một triệu năm trăm linh bốn nghìn đồng).
Bà T, bà P, ông T1, D1 được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Án phí dân sự phúc thẩm ông Đ không phải nộp. Trả lại cho ông Đ 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông Đ đã nộp theo biên lai số AA/2021/0001712 ngày 19/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ LP3.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn San |
Bản án số 22/2023/DS -PT ngày 21/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về kiện chia di sản thừa kế
- Số bản án: 22/2023/DS -PT
- Quan hệ pháp luật: Kiện chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bên khởi kiện đề nghị Toà án chia di sản thừa kế của bố, mẹ để lại theo quy định của pháp luật
