Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI


Bản án số: 22/2022/HS-ST
Ngày: 17 - 02 - 2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Nhật Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Sâm Châu và Ông Nguyễn Ngọc Giang San

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Linh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Đức Xuân Thương – Kiểm sát viên.

Ngày 17/02/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2022, đối với bị cáo:

Bùi Đức T, Giới tính: Nam; Sinh năm 2002, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã BC, huyện LT, tỉnh ĐN; Nơi sinh sống: Ấp B, xã BC, huyện LT, tỉnh ĐN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Bùi Văn T2, sinh năm 1970 và bà Trịnh Thị V, sinh năm 1972; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt.

Bị hại: Chị Trần Thị Thanh H, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ A, khu CX, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh ĐN. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Đức T và Nguyễn Văn T3 là bạn bè với nhau. Ngày 27/6/2021 T đến nhà T3 tại ấp 6, xã Bàu Cạn, huyện Long Thành chơi và ở lại. Đến 14 giờ 45 phút ngày 29/6/2021 T, T3 và em trai T3 là T4 đang ngồi chơi tại phòng khách thì có bạn của T3 là chị Trần Thị Thanh H ghé chơi. Chị H mang theo 01 ba lô sọc ca rô màu nâu đen để trên nền gạch ở phòng khách, sau đó Hằng và T3 vào phòng của T3 nói chuyện, T4 đi ra phía sau nhà nằm võng. Lúc này, T quan sát thấy không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong ba lô, T đến kéo khóa ba lô thì thấy có tiền mệnh giá 50.000đ, 100.000đ, 200.000đ và 500.000đ, T lấy hết tiền trong ba lô và đếm được 4.300.000đ rồi cất vào ví của T rồi kéo khóa ba lô lại như cũ. Khoảng 10 phút sau, T nói với T3 là đến nhà H1 ở ấp 8, xã Bàu Cạn để đòi tiền rồi T lên xe đi. Nghi ngờ T lấy trộm tiền nên chị H lại kiểm tra ba lô thì phát hiện mất số tiền 4.300.000đ. Khoảng 30 phút sau, T3 đi đến nhà H1 gặp T hỏi có lấy tiền của chị H không nhưng T nói “không lấy”, T3 yêu cầu kiểm tra ví của T thì thấy có số tiền 4.300.000đ rồi T3 đi về. Sau đó, chị H làm đơn báo công an xã Bàu Cạn, đến ngày 01/7/2021 T bị Công an xã Bàu Cạn mời về trụ sở làm việc. Tại đây, T thừa nhận hành vi trộm cắp số tiền 4.300.000 đ của chị H và nộp lại 160.000 đ, còn lại đã tiêu xài hết.

Vật chứng: Số tiền 160.000 đ do T giao nộp lại sau khi trộm cắp nhưng chưa tiêu xài hết.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã trả lại cho chị H số tiền 4.300.000đ và chị H không yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 03/CT-VKSLT ngày 24/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Bùi Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo Bùi Đức T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vào khoảng 15 giờ ngày 29/6/2021 bị cáo lợi dụng sơ hở của bị hại, tài sản không có người trông coi, bị cáo đã có hành vi lén lút mở khóa ba lô của chị H lấy trộm số tiền 4.300.000 đồng. Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Đức T 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 160.000 đồng.
  4. Về án phí: Bị cáo Bùi Đức T phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Nơi nhận:
  • - Bị cáo, Bị hại;
  • - VKSND huyện Long Thành;
  • - TAND, VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Long Thành;
  • - Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Trần Nhật Lệ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2022/HS-ST ngày 17/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 22/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Đức T trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger