Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

Bản án số: 22/2022/DS-PT
Ngày 23 - 3 - 2022
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_______________________

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tài Sử

Các Thẩm phán: Ông Bùi Danh Đại và ông Lê Văn Hữu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Đoàn Thùy An, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2021/TLPT-DS ngày 01 tháng 11 năm 2021 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2021/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk GLong, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 82/2021/QĐ-PT ngày 28 tháng 12 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2022/QĐ-PT ngày 18/01/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2022/QĐ-PT ngày 17/02/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2022/QĐ-PT ngày 16/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông đối với các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông K’W; địa chỉ: Bon R, xã Đ, huyện G, tỉnh Đăk Nông – Có mặt;
  2. Bị đơn: Anh Lương Thanh H; địa chỉ: Thôn 7, xã Đ, huyện G, tỉnh Đăk Nông – Có đơn xin xét xử vắng mặt;
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Bà H’Đ và bà H’G; cùng địa chỉ: Bon R, xã Đ, huyện G, tỉnh Đăk Nông – Có mặt;
    • Chị Hoàng Thị A; địa chỉ: Thôn 7, xã Đ, huyện G, tỉnh Đăk Nông – Có đơn xin xét xử vắng mặt;
    • Bà Nguyễn Thị Q và ông Phạm Đình C; cùng địa chỉ: Thôn 7, xã Đ, huyện G, tỉnh Đăk Nông; Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Bà Nguyễn Thị Q - Có mặt;
    • Bà H’B; địa chỉ: Bon Rg, xã Đ, huyện G, tỉnh Đăk Nông – Có mặt;
  4. Những người làm chứng:
    • Ông K’P – Có mặt;
    • Ông K’J – Có mặt;
    • Anh K’H – Vắng mặt;
    • Ông Y Đ – Có mặt;
    • Bà Lê Thị K – Có mặt.
    • Cùng địa chỉ: Bon R’S, xã Đ, huyện G, tỉnh Đăk Nông.
  5. Người phiên dịch cho bà H’Đ: Bà H’G; địa chỉ: Bon R’S, xã Đ, huyện G, tỉnh Đăk Nông – Có mặt.
  6. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 16/12/2019, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông K’W trình bày: Năm 1988 vợ chồng ông khai hoang diện tích đất có tứ cận: Một phía giáp đường; một phía giáp suối; một phía giáp khe nước (hiện nay là Cống Lớn); phía còn lại giáp đất thờ cúng và sinh hoạt của thôn (bắt đầu từ đất có căn nhà xây hai tầng của anh H về phía Cống Nhỏ); khi khai hoang có ông K’P và ông K’J tham gia phát dọn bằng hình thức đổi công; sau khi khai hoang vợ chồng ông trồng bắp, đậu nành được khoảng 03 năm thì người dân về cư trú đông và chăn nuôi gia súc nên ông bà không canh tác nữa mà để đất trống thỉnh thoảng ông bà vẫn đi qua trông coi đất. Khi anh H nhận chuyển nhượng đất của ông K’K và làm nhà trên đất thì ông bà biết nhưng không biết cụ thể nội dung thỏa thuận chuyển nhượng; anh H làm nhà trên phần đất của ông K’K nên ông bà không có ý kiến.

Nguồn gốc diện tích đất anh H làm nhà là đất cộng đồng, dân làng thường tập trung các dịp lễ hội. Năm 2017, bà Q cho ông K’W xem giấy mua bán đất của anh H thì ông cũng đã nói với bà Q về việc đất đó là đất thờ cúng; đồng thời ông cũng cho rằng đất bà Q mua của anh H là phần đất anh H mua của ông K’K, không liên quan đến phần đất của vợ chồng ông nên ông không có ý kiến. Năm 2019, vợ chồng ông làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì anh H tranh chấp cho rằng diện tích đất do ông K’K chuyển nhượng cho anh H. Theo giấy sang nhượng anh H cung cấp thể hiện diện tích đất chuyển nhượng gồm cả phần đất của vợ chồng ông nên việc chuyển nhượng này là không đúng và vợ chồng ông không biết. Khi vợ chồng ông hỏi bà H’Gr (vợ ông K’K) thì bà cho rằng chỉ sang nhượng đến phần đất anh H làm nhà, không sang nhượng diện tích đất tranh chấp. Vì vậy, ông K’W khởi kiện yêu cầu anh H trả lại diện tích đất 1.220,5m² có tứ cận nêu trên.

(Phần nội dung lời khai của bị đơn và người liên quan được lược bỏ để tóm tắt...)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Q kháng cáo trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị Q, hội đồng xét xử xét thấy:

Theo lời khai của ông K’W thì diện tích đất đang tranh chấp là do vợ chồng ông khai hoang vào năm 1988, khi khai hoang có ông K’P và ông K’J tham gia, sau khi khai hoang gia đình ông trồng bắp, đậu nành được khoảng 03 năm thì không canh tác nữa mà để trống, đến năm 2019 ông K’W kê khai cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì phát sinh tranh chấp với anh Lương Thanh H.

Tại Quyết định số: 186/QĐ-UB ngày 27-02-2004, UBND tỉnh Đăk Nông thu hồi 2677,9ha đất Lâm nghiệp của Lâm trường Đ gồm các tiểu khu 1719, 1729, 1736 thuộc xã Đ, huyện G, tỉnh Đăk Nông. Tại Quyết định số: 187/QĐ-UB ngày 27-02-2004, UBND tỉnh Đăk Nông giao 2610,8 ha diện tích đất thu hồi của Lâm trường Đ cho công ty TNHH T thuê để sản xuất nông nghiệp. Theo Quyết định số: 1843/QĐ-UB ngày 12/12/2008 của UBND tỉnh Đăk Nông thu hồi 2.563,3 ha đất của Công ty TNHH T giao cho Ủy ban nhân dân huyện Đ quản lý và bố trí sử dụng.

Như vậy, ông K’W có hành vi chặt phá rừng trái phép của thuộc quyền quản lý của Lâm trường Đ. Sau đó, ông K’W không quản lý, sử dụng đất và không có các loại giấy tờ đất theo quy định của Luật Đất đai năm 1993, Điều 50 Luật đất đai năm 2003 (nay là Điều 100 Luật đất đai năm 2013). Do đó, ông K’W không được pháp luật bảo hộ khi phát sinh tranh chấp về quyền sử dụng đất.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo bà Nguyễn Thị Q, sửa bản án sơ thẩm số 17/2021/DSST ngày 28 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đăk GLong.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K’W đối với anh Lương Thanh H, chị Hoàng Thị Á, bà Nguyễn Thị Q và ông Phạm Đình C phải trả lại cho ông K’W diện tích đất tranh chấp 1.220,8m².
  2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông K’W phải chịu chi phí tố tụng là 5.000.000 đồng.
  3. Về án phí: Ông K’W phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Q được trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đắk Nông;
- TAND huyện Đăk GLong;
- Chi cục THADS huyện Đăk GLong;
- Các đương sự;
- Lưu: HS, Tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




(Đã ký)

Nguyễn Tài Sử
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2022/DS-PT ngày 23/03/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 22/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/03/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TC QSDĐ giữa K'W và Lương Thanh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger