Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRI TÔN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 22/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 8-4-2021

V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Thúy Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Ngọc Phượng;
  2. Bà Vanh Si Tha.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Tâm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên toà: Ông Chau Pho Ly – Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 26/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXX-ST ngày 09 tháng 3 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 139/2021/QĐHPT-ST ngày 26 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ 31, ấp T, xã L, huyện TT, tỉnh An Giang, (có mặt);

2. Bị đơn: Ông Nguyễn P, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tổ 31, ấp T, xã L, huyện TT, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Trần T trình bày: Bà T và ông P chung sống với nhau từ năm 2001 có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện TT, tỉnh An Giang vào ngày 25/4/2001. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, về sau thì xảy ra mâu thuẫn do ông P không chăm lo cho gia đình. Mặc cho bà T đã nhiều lần khuyên chồng nên hạn chế tụ tập bạn bè ăn nhậu mà phải tập trung vào công việc cố gắng kiếm tiền lo cho các con, nhưng ông P không thay đổi. Từ đó, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, nên bà T và ông P đã ly thân từ tháng 02/2020 đến nay, bà T yêu cầu ly hôn với ông P; về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn N, sinh ngày 16/4/2002 và Nguyễn Ng, sinh ngày 24/7/2010. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi các con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng việc nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn P: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, 02 lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo trình tự tố tụng, nhưng ông P không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng không có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, ông P đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn giữa bà T và ông P.

* Ý kiến của cháu Nguyễn Ng: có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ là bà Trần T.

Tại phiên tòa, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông P.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến: Về thủ tục: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông P. Về con chung: Giao cháu Ng cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, ông P không cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Bà T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông P có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại huyện TT, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về tư cách, sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt ông P.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông P chung sống với nhau vào năm 2001 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ. Tòa án nhận thấy tình trạng vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà T yêu cầu ly hôn với ông P là có căn cứ nên được chấp nhận theo Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn N (đã trưởng thành) và Nguyễn Ng, sinh ngày 24/7/2010. Hội đồng xét xử giao cháu Ng cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng phù hợp với nguyện vọng của cháu. Ông P không có nghĩa vụ cấp dưỡng do bà T không yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà T khai không có, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Khi đương sự có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí sơ thẩm: Bà T chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Xử: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của bà Trần T.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần T được ly hôn với ông Nguyễn P.

[2] Về con chung: Bà Trần T được tiếp tục nuôi 02 cháu Nguyễn N và Nguyễn Ng, ông P không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu. Ông P có quyền thăm nom, giáo dục, chăm sóc con.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Các bên không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2019/0003239 ngày 25 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn. Ông P không phải chịu án phí.

[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông P vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tỉnh;
- VKSND h.Tri Tôn;
- Chi cục THADS h.Tri Tôn;
- UBND xã Lê Trì;
- Các đương sự;
- Lưu HS & VP;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




(đã ký)

Sơn Thị Thúy Liễu
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2021/HNGĐ-ST ngày 08/04/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 22/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nđơn Trần T; bị đơn Nguyễn P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger