Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG


Bản án số: 22 /2021/DS-ST
Ngày 23/7/2021
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời, Bà Dương Thị Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Trà – Thư ký tòa án nhân dân quận S, TP Đà Nẵng.

- Đại diện VKS nhân dân quận S: Bà Lưu Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận S xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2021/TLST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2021/QĐXXST- DS ngày 07 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2021/QĐST-HPT ngày 28 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng B - Trụ sở chính: 77 Trần Hưng Đ, quận H, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn L – Chức vụ Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Anh V – Chức vụ: Giám đốc PGD Thanh Bình NGÂN HÀNG B chi nhánh Đà Nẵng và Ông Nguyễn Bảo Q - Chức vụ: Chuyên viên quản trị nợ, khối quản lý và XLN có vấn đề theo giấy ủy quyền số 54/UQ-TGĐ ngày 01/02/2021 của Tổng giám đốc Ngân hàng B. Địa chỉ: 205-207 Nguyễn Văn L, phường N, quận C, Tp Đà Nẵng. có mặt.

- Bị đơn: ông Nguyễn Ngọc P – sinh năm: 1977 và bà Nguyễn Thị T – sinh năm: 1973. Hộ khẩu thường trú: tổ 24 phường M, quận S, Đà Nẵng. Chỗ ở hiện nay: Phòng 105 chung cư A6 Vũng T, phường N, quận S, Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay- đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Bảo Q trình bày: Ngày 18/02/2020, Nguyễn Ngọc P và bà Nguyễn Thị T có vay vốn tại Ngân hàng B theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số: 06/2020/HĐTDTDH-CN/NGÂN HÀNG B.120106 ngày 18/02/2020; Số tiền vay: 1.700.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bảy trăm triệu đồng); Mục đích vay: Hoàn tiền mua bất động sản để cho thuê tại thửa đất số 358, tờ bản đồ số 43, địa chỉ: Tổ 16, phường H, quận L, TP. Đà Nẵng; thời hạn vay: 228 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày bên cho vay giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay trong hạn: Lãi suất áp dụng trong 03 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân là 14%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh: Từ tháng thứ 04 trở đi, lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tiếp theo tối thiểu bằng lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 13 tháng trả lãi sau cao nhất KHCN của NGÂN HÀNG B tại thời điểm điều chỉnh cộng với (+) biên độ 4,8 %/năm.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là nhà đất tại tổ 16 phường H, quận L, Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 854249, số vào sổ cấp GCN: TCs177236 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố Đà Nẵng cấp ngày 28/12/2018, chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc P và bà Nguyễn Thị T ngày 17/02/2020. Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 06/2020/HĐTC-CN/NGÂN HÀNG B.120106 ngày 18/02/2020.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện của nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông P, bà T phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 23/7/2021 là: 1.760.581.786 đồng (trong đó, nợ gốc: 1.629.442.599 đồng, nợ lãi trong hạn: 130.262.340 đồng, tiền lãi trên nợ gốc chậm trả: 412.296 đồng, tiền lãi chậm trả: 464.551 đồng; yêu cầu Tòa án buộc ông P, bà T tiếp tục trả lãi theo đúng thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến ngày ông bà thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, HĐXX nhận định:

[1] Về phần thủ tục: Đơn khởi kiện của Ngân hàng B nộp tại tòa án là đúng thủ tục và đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 1 điều 29; điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Ngọc P mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt họ.

[2] Về nội dung vụ án: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B đối với ông Nguyễn Ngọc P và bà Nguyễn Thị T là có cơ sở, yêu cầu về cách tính lãi cũng như việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, yêu cầu ông P, bà T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ là phù hợp với quy định của pháp luật tại điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, điều 466, 299 Bộ luật dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 29; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 299, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện Ngân hàng B đối với ông Nguyễn Ngọc P, bà Nguyễn Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Buộc ông Nguyễn Ngọc P và bà Nguyễn Thị T phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng B số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 23/7/2021 là: 1.760.581.786 đồng.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Ngọc P và bà Nguyễn Thị T phải chịu là 64.817.453đ. Hoàn trả lại cho Ngân hàng B số tiền tạm ứng án phí 32.212.095 đ theo biên lai thu số 0006582 ngày 23/02/2021.
Nơi nhận:
  • - VKSND quận S;
  • - Chi cục THA dân sự quận S;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa





Nguyễn Thị Hạnh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22 /2021/DS-ST ngày 23/07/2021 của Tòa án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 22 /2021/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng B và ông P, bà T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger