Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN


Bản án số: 22/2021/DS-ST
Ngày 16 - 7 - 2021
V/v “Tranh chấp hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Thị Bình.
  • Bà Đinh Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 285/2020/TLST-DS, ngày 23 tháng 12 năm 2020, về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2021/QĐXXST-DS, ngày 07/6/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2021/QĐST-DS, ngày 22 tháng 6 năm 2021; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Từ Cao Tr, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ 3, khu phố 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  2. Bị đơn: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1964; nơi cư trú: Tổ 2, thôn 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Nguyễn Thị Mỹ D; nơi cư trú: Tổ 2, thôn 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
    • - Ông Trần Ngọc Ch, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ 2, khu phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
    • - Bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ 3, khu phố 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Xuân H; vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Trần Ngọc Ch.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc “Yêu cầu bồi thường tiền thuê đất sản xuất lúa nước” lập ngày 29/10/2020, cùng các bản tự khai, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của ông Từ Cao Tr tại phiên tòa thể hiện:

Ngày 01/02/2020, vợ chồng ông Từ Cao Tr và bà Nguyễn Thị Xuân H có thuê đất sản xuất lúa của ông Hoàng Văn T, diện tích 3,8 ha đất tại đồng Đ. Giá thuê là 40.000.000 đồng và hai bên có viết giấy tay. Thời hạn thuê là 01 năm 3 vụ, từ ngày 01/02/2020 đến ngày 01/02/2021.

Sau khi thuê đất thì vợ chồng ông Tr, bà H tiến hành sạ lúa vụ đầu tiên trên diện tích đất thuê. Vợ chồng ông Tr, bà H làm được vụ đầu tiên thì ông T bán cho ông Trần Ngọc Ch diện tích 1,2 ha trong phần diện tích 3,8 ha đất mà vợ chồng ông Tr, bà H thuê của ông T. Đến vụ thứ hai vợ chồng ông Tr, bà H sạ lúa nhưng bị ông Trần Ngọc Ch ra ngăn cản và đòi lại đất ruộng. Ông Tr liên hệ với ông T thì ông T trả lời đất ông cho thuê thì cứ sản xuất và ông T sẽ chịu trách nhiệm theo giấy hợp đồng đã ký giữa đôi bên.

Ông Từ Cao Tr làm đơn gửi UBND thị trấn Đ, UBND thị trấn Đ tổ chức hòa giải thì ông Ch trình ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1,2 ha mang tên ông Trần Ngọc Ch nhưng ông Hoàng Văn T không tham gia, buổi hòa giải không thành. Ông Tr làm đơn khởi kiện yêu ông T bồi thường thiệt hại tiền thuê đất, tiền cày đất, tiền công sạ lúa, tiền giống, tiền thuốc cỏ trên diện tích đất sản xuất lúa 1,2 ha với số tiền 16.800.000 đồng. Trong đó tiền thuê ruộng 8.000.000 đồng, tiền cày ruộng 3.000.000 đồng, tiền lúa giống 4.000.000 đồng, tiền công sạ lúa 500.000 đồng, tiền thuốc cỏ 1.300.000 đồng.

Tòa án tổ chức tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn ông Hoàng Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Trần Ngọc Ch không tham gia nên hòa giải không thành.

Theo biên bản lấy lời của ông Hoàng Văn T vào ngày 30/3/2021, thì ông T cho rằng nếu bồi thường thì ông chỉ bồi thường 01 ha do ông B, ông Ch khai thác đất. Đối với số tiền 16.800.000 đồng ông Tr kiện tôi (T) nếu nói tình cảm thì tôi (T) cũng đồng ý trả cho ông Tr cũng được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú và địa chỉ cụ thể trên địa bàn huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn, yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bị đơn bồi thường thiệt hại về tiền thuê đất, tiền cày đất, tiền công sạ lúa, tiền giống lúa, tiền thuốc cỏ xuất phát từ hợp đồng thuê quyền sử dụng đất. Nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

[1.3] Về xét xử vắng mặt đương sự: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc Ch, bà Nguyễn Thị Mỹ D vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, là trường hợp được triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có tên trên là phù hợp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất: Vợ chồng ông Từ Cao Tr và bà Nguyễn Thị Xuân H thuê quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Hoàng Văn T, bà Nguyễn Thị Mỹ D hai bên tự nguyện giao kết với nhau dựa trên giấy với hình thức viết tay có nội dung thuê đất sản xuất lúa nước, và vợ chồng ông Tr, bà H đã đưa đủ số tiền thuê đất 40.000.000 đồng cho ông Hoàng Văn T là bên cho thuê đất đã nhận đủ số tiền này. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có cơ sở thể hiện giao dịch thuê quyền sử dụng đất giữa các bên lập ngày 01/02/2020 là có thật.

[2.2] Về bồi thường thiệt hại theo hợp đồng: Vợ chồng ông T, bà D là người trực tiếp cho vợ chồng ông Tr, bà H thuê đất sản xuất lúa nước diện tích 3,8 ha trong thời hạn 01 năm 3 vụ lúa. Nhưng vợ chồng ông Tr, bà H mới sản xuất thu hoạch có một vụ mà ông T đã bán đất ruộng cho ông Trần Ngọc Ch diện tích đất 1,2 ha. Trong quá trình sản xuất những vụ tiếp theo của vợ chồng ông Tr, bà H bị ông Trần Ngọc Ch ngăn cản, lấy lại ruộng diện tích 1,2 ha đất gây thiệt hại cho vợ chồng ông Tr, bà H. Ông Tr khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông T, bà D bồi thường thiệt hại về tiền thuê đất, tiền cày đất, tiền công sạ lúa, tiền giống lúa, tiền thuốc cỏ trên diện tích đất sản xuất lúa 1,2 ha với số tiền 16.800.000 đồng. Xét thấy, cần chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn để buộc bị đơn ông Hoàng Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mỹ D phải liên đới bồi thường số tiền 16.800.000 đồng cho vợ chồng ông Từ Cao Tr và bà Nguyễn Thị Xuân H là phù hợp thực tế và đúng quy định tại khoản 1 Điều 476, Điều 478, Điều 500 Bộ luật dân sự năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Điều 357, Điều 468, khoản 1 Điều 476, Điều 478, Điều 500 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Điểm b khoản 3 Điều 167 và khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013;
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
  • Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Từ Cao Tr.
  2. Buộc ông Hoàng Văn T và bà Nguyễn Thị Mỹ D có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại cho ông Từ Cao Tr và bà Nguyễn Thị Xuân H số tiền 16.800.000 đồng (Mười sáu triệu tám trăm ngàn đồng).
  3. Về án phí: Buộc ông Hoàng Văn T và bà Nguyễn Thị Mỹ D phải nộp số tiền 840.000 đồng (Tám trăm bốn mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Từ Cao Tr số tiền 420.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 16/7/2021. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
- Cơ quan thi hành án cùng cấp;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Văn Quý
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2021/DS-ST ngày 16/07/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 22/2021/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger