|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 2192/2024/DS-ST Ngày: 30/5/2024. V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Nguyễn Thị Chi
- 2/ Ông Võ Văn Lợi
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1709/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 2921/2024/QÐST-DS ngày 09/5/2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2922/2024/QĐȘT-DS ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Công ty T2 (Việt Nam). Địa chỉ: số I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền bà Huỳnh Thị Hà V, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Tầng D Tòa nhà S T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Giấy ủy quyền số 199/2023/GUY-MAFC ngày 23/5/2023 của Công ty T2 (Việt Nam) và Giấy ủy quyền ngày 20/01/2024 của Công ty L.
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1993.
Địa chỉ 1 T, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 22 tháng 9 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty T2 (Việt Nam) có bà Huỳnh Thị Hà V là người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:
Ngày 08/7/2022, ông Nguyễn Văn T làm giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3361407 với Công ty T2 (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty T2) theo đó ông Nguyễn Văn T thỏa thuận đồng ý vay số tiền 31.980.000 đồng, kỳ hạn vay 24 tháng từ ngày 05/8/2022 đến ngày 05/7/2024, hàng tháng trả góp mỗi kỳ số tiền 2.028.595 đồng vào ngày 05 tây hàng tháng, kỳ cuối cùng trả 1.422.537 đồng, lãi suất 3.67%/tháng, tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn được tỉnh 150% x (lãi suất tại thời điểm chuyển nợ quá hạn x (dư nợ gốc quả hạn) x (số ngày trễ hạn/365), tiền lãi chậm trả là 10%/năm, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Để đảm bảo cho khoản vay này, ông Nguyễn Văn T đã thỏa thuận mua bảo hiểm tiền vay với Công ty TNHH T2 (Map life). Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng trên được ký kết bằng hình thức hợp đồng điện tử chữ ký số. Chữ ký số của khách hàng vay ông Nguyễn Văn T được thực hiện thông qua hợp đồng đối tác cung cấp và sử dụng dịch vụ chữ ký số công cộng FPT-CA sốp 2020.123/HDKT/BK6 ngày 06/4/2020 và phụ lục 01, 02, 03, 04 giữa Công ty T2 và Chi nhánh tại Thành phố H Công ty TNHH H (TP. Hà Nội). Sau khi ông Nguyễn Văn T thực hiện và xác nhận đồng ý ký hợp đồng vào ngày 12/7/2022, Công ty TNHH H kiểm tra mã OTP hợp hợp lệ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT-CA chứng thực chữ ký số cho ông Nguyễn Văn T. Ngày 12/7/2022, Công ty T2 giải ngân số tiền vay trên cho ông Nguyễn Văn T qua số tài khoản của ông Nguyễn Văn T. Từ sau khi giải ngân cho đến nay ông Nguyễn Văn T1 chỉ thanh toán được 03 kỳ với tổng số tiền gốc và lãi là 6.134.223 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 2.921.699 đồng, tiền lãi: 3.164.086 đồng, tiền phí 36.000 đồng, tiền lãi chậm trả 12.438 đồng). Ngày 07/10/2022 đến nay ông Nguyễn Văn T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Công ty T2.
Công ty T2 đã liên hệ và đã gửi đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho ông Nguyễn Văn T biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn T vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cho phía Công ty T2. Nay Công ty T2 xác định chỉ yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Văn T thanh toán cho Công ty T2 tổng cộng số tiền tạm tỉnh đến ngày 30/5/2024 là 55.492.286đồng. Trong đó: nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 26.433.985dồng; tiền lãi trong hạn: 12.752.788 đồng; tiền lãi quá hạn: 12.406.997 đồng; tiền lãi chậm trả: 1.274.200đồng. Ông Nguyễn Văn T1 phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 31/5/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật và xác định khoản vay này không liên quan đến ai khác.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T vắng mặt trong quá trình Tòa án tiến hành tổ tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được ý kiến trình bày của ông Nguyễn Văn T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: thụ lý đúng quy định theo thẩm quyền, vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng nội dung, thành phần xét xử, đúng thời gian, địa điểm. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn Công ty T2 thành viên Công ty T2 (Việt Nam) khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Văn T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, bị đơn có địa chỉ tại thành phố T. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên Tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn T.
[3] Về nội dung:
Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông Nguyễn Văn T vắng mặt không rõ lý do cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Như vậy, ông Nguyễn Văn T đã từ bỏ các quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3.1] Về yêu cầu của nguyên đơn Công ty T2 yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn T trả tiền nợ gốc, Hội đồng xét nhận thấy:
Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3361407 giữa Công ty T2 và ông Nguyễn Văn T, thể hiện ông Nguyễn Văn T đã ký ngày 12/7/2022, lý do đồng ý, mặc dù trên hợp đồng không thể hiện chữ ký của ông Nguyễn Văn T nhưng căn cứ vào hợp đồng đối tác cung cấp và sử dụng dịch vụ chữ ký số công cộng FPT-CA sốp 2020.123/HDKT/BK6 ngày 06/4/2020 và phụ lục 01, 02, 03, 04 giữa Công ty T2 và Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh Công ty TNHH H (TP. Hà Nội) và giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT-CA chứng thực chữ ký số FPT (F-CA) cấp ông Nguyễn Văn T hiệu lực đến ngày 13/7/2022 thể hiện đôi bên có ký kết hợp đồng tín dụng dưới hình thức chữ ký số. Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 130/2018/NĐ-CP quy định về giá trị pháp lý của chữ ký số như sau: “Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định 130/2018/NĐ-CP... khóa bí mật chỉ thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời điểm kỷ". Chữ ký số của ông Nguyễn Văn T được tạo ra trong thời gian Giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT-CA có hiệu lực, được cung cấp bởi Công ty TNHH H là đơn vị được thực hiện dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng FPT-CA theo Giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng số 527/GP-BTTTT ngày 12 tháng 10 năm 2015 của Bộ T3 nên có giá trị pháp lý. Căn cứ vào bản chính phiếu báo nợ ngày 12/7/2022 của Ngân hàng TMCP K thể hiện Công ty T2 đã giải ngân số tiền trên vào tài khoản của ông Nguyễn Văn T với số tiền 30.000.000 đồng, số tiền 1.980.000 đồng còn lại, ông Nguyễn Văn T nộp phí bảo hiểm theo Giấy chứng nhận bảo hiểm số 9120353 ngày 13/7/2022. Như vậy, có cơ sở xác định Công ty T2 đã cho ông Nguyễn Văn T1 vay với số tiền 31.980.000 đồng. Tính đến ngày 30/5/2024, ông Nguyễn Văn T còn nợ số tiền nợ gốc 29.058.301 đồng. Việc ông Nguyễn Văn T không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán trong suốt thời gian dài vừa qua đã vi phạm Điều 8 của Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng trên nên Công ty MIRAE ASSET yêu cầu ông Nguyễn Văn T thanh toán khoản tiền nợ gốc 29.058.301 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[3.2] Về yêu cầu trả tiền lãi:
Do ông Nguyễn Văn T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngày 05/11/2022 Công ty T2 đã chuyển toàn bộ dư nợ còn lại sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận tại Điều 8 của giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 9120353 ngày 13/7/2022 là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp quy định với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó, Công ty T2 yêu cầu ông Nguyễn Văn T phải trả số tiền lãi tạm tính đến ngày 30/5/2024 gồm: tiền lãi trong hạn 12.752.788 đồng, tiền lãi quá hạn: 12.406.997 đồng, tiền lãi chậm trả: 1.274.200 đồng là có căn cứ chấp nhận và ông Nguyễn Văn T1 phải thanh toán tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 31/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ.
Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
Áp dụng Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T2 (Việt Nam).
Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả cho Công ty T2 (Việt Nam) số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 30/5/2024 là 55.492.286 đồng, trong đó gồm tiền nợ gốc: 29.058.301 đồng, tiền lãi trong hạn: 12.752.788 đồng, tiền lãi quá quá hạn: 12.406.997 đồng, tiền lãi chậm trả: 1.274.200đồng theo giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3361407 ngày 12/7/2022 giữa Công ty T2 (Việt Nam) và ông Nguyễn Văn T. Trả một lần cho Công ty T2 (Việt Nam) ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Văn T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì ông Nguyễn Văn T phải chịu khoản tiền lãi, phí phát sinh mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty T2 (Việt Nam) thì lãi suất mà khách hành vay phải tiếp tục thanh toán cho Công ty T2 (Việt Nam) theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất suất của Công ty T2 (Việt Nam).
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm 2.774.614 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Công ty T2 (Việt Nam) không phải chịu án phí. Công ty T2 (Việt Nam) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 1.034.588đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0006133 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 24 uật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, dương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tỉnh từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận: - TANDTP.HCM; - VKSND TP. Thủ Đức; - Chi cục THADS TP . Thủ Đức; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Nhung |
Bản án số 2192/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 2192/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TCHĐTD
