|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2190/2024/DS-ST
Ngày: 30/5/2024.
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Nhung
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1/ Bà Nguyễn Thị Chi
- 2/ Ông Võ Văn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1615/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 2919/2024/QĐST-DS ngày 09/5/2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2920/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần Đ.
Địa chỉ: số G C, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Tấn N, sinh năm 1996 hoặc ông Huỳnh Trí T hoặc bà Chu Mai C.
Cùng địa chỉ: số G C, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Văn bản ủy quyền ngày 20/9/2023).
- Bị đơn: Ông Võ Đình T1, sinh năm 1998.
Địa chỉ: 5 đường G, khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 20 tháng 9 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty cổ phần Đ có ông Huỳnh Tấn N, ông Huỳnh Trí T, bà Chu Mai C là người đại diện theo ủy quyền cùng thống nhất trình bày như sau:
Ngày 24/12/2022, ông Võ Đình T1 và Công ty TNHH T2 ký hợp đồng vay số 6784678 về việc cho ông Võ Đình T1 vay số tiền 15.000.000 đồng, kỳ hạn vay 10 ngày, ngày đến hạn thanh toán 03/01/2023, lãi suất 0.04%/ngày, lãi suất quá hạn bằng 100% quy định trong hạn. Sau khi hợp đồng vay được ký kết, ngày 26/12/2022, Công ty TNHH T2 đã giải ngân cho ông Võ Đình T1 qua số tài khoản của ông Võ Đình T1. Từ sau khi giải ngân cho đến nay ông Võ Đình T1 không trả tiền nợ gốc và tiền lãi. Ngày 23/5/2023, Công ty TNHH T2 bán khoản nợ trên cho Công ty cổ phần Đ theo hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/Loitin-VFin và các phụ lục số 01, 02, 03. Theo nội dung hợp đồng mua bán nợ thì Công ty cổ phần Đ nhận khoản nợ và lãi phát sinh từ hợp đồng trên.
Ngày 23/5/2023, Công ty TNHH T2 đã thông báo cho ông Võ Đình T1 về việc chuyển giao khoản nợ cho Công ty cổ phần Đ.
Ngày 11/9/2023, Công ty cổ phần Đ đã gửi thông báo số 1109/2023/TB/VFIN/12 cho ông Võ Đình T1 về việc đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ và lãi của hợp đồng vay số 6784678 ngày 24/12/2022. Tuy nhiên, ông Võ Đình T1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền nợ. Nay Công ty cổ phần Đ yêu cầu ông Võ Đình T1 thanh toán cho Công ty cổ phần Đ số tiền tạm tính đến ngày 30/5/2024 là 18.120.000đồng. Trong đó: nợ gốc chưa thanh toán: 15.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn: 60.000đồng; tiền lãi quá hạn: 3.060.000đồng. Ông Võ Đình T1 phải tiếp tục chịu lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng vay cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật. Công ty cổ phần Đ xác nhận chỉ nhận chuyển giao khoản nợ và lãi phát sinh từ hợp đồng vay trên.
Bị đơn ông Võ Đình T1 vắng mặt trong quá trình Tòa án tiến hành tố tụng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được ý kiến trình bày của ông Võ Đình T1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: thụ lý đúng quy định theo thẩm quyền, vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng nội dung, thành phần xét xử, đúng thời gian, địa điểm. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn Công ty cổ phần Đ khởi kiện bị đơn ông Võ Đình T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, bị đơn ông Võ Đình T1 có địa chỉ tại thành phố T. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Võ Đình T1 đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên Tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Võ Đình T1.
[3] Về nội dung:
Bị đơn ông Võ Đình T1 đã được Tòa án triệu tập đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông Võ Đình T1 vắng mặt không rõ lý do cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Như vậy, ông Võ Đình T1 đã từ bỏ các quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Võ Đình T1 trả tiền nợ gốc, Hội đồng xét nhận thấy:
Căn cứ hợp đồng vay số 6784678 ngày 24/12/2022 giữa ông Võ Đình T1 và Công ty TNHH T2 và giấy báo nợ ngày 26/12/2022 của Ngân hàng TMCP P thể hiện Công ty TNHH T2 đã chuyển khoản số tiền 15.000.000 đồng vào tài khoản của ông Võ Đình T1 theo hợp đồng vay số 6784678. Như vậy, có cơ sở xác định Công ty TNHH T2 đã cho ông Võ Đình T1 vay số tiền 15.000.000 đồng, theo thỏa thuận kỳ hạn vay 10 ngày, mục đích vay sửa chữa xe, lãi suất 0.04%/ngày, lãi suất quá hạn bằng 100% quy định trong hạn.
Ngày 23/5/2023, Công ty TNHH T2 bán khoản nợ trên cho Công ty cổ phần Đ theo hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/Loitin-VFin và Phụ lục hợp đồng số 01, 02, 03. Theo đó xác nhận khoản nợ của ông Võ Đình T1 đối với Công ty TNHH T2 phát sinh từ hợp đồng vay số 6784678 ngày 24/12/2022 đã được chuyển giao cho Công ty cổ phần Đ theo hợp đồng mua bán nợ trên. Việc mua bán nợ này giữa các công ty là hợp pháp và phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Công ty cổ phần Đ có quyền yêu cầu ông Võ Đình T1 phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trên cho Công ty cổ phần Đ.
Quá trình thực hiện khoản vay, đến hạn thanh toán ông Võ Đình T1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tính đến ngày 30/5/2024 ông Võ Đình T1 còn nợ số tiền nợ gốc 15.000.000 đồng. Theo thỏa thuận tại khoản 3 Điều 1 Hợp đồng vay số 6784678 lập ngày 24/12/2022, giải ngân ngày 26/12/2022, lãi suất 0.04%/ngày, lãi suất quá hạn bằng 100% quy định trong hạn, số tiền lãi tạm tính đến ngày 30/5/2024 gồm: tiền lãi trong hạn 60.000 đồng, tiền lãi quá hạn từ ngày 06/01/2023 đến ngày 30/5/2024: 3.060.000 đồng. Do đó, Công ty cổ phần Đ yêu cầu ông Võ Đình T1 trả số nợ gốc và lãi 18.120.000 đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại các điều 463, 466 Bộ luật dân sự và các điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010.
Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
Áp dụng Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần Đ.
Buộc ông Võ Đình T1 có nghĩa vụ trả cho đơn Công ty cổ phần Đ số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 30/5/2024 là 18.120.000 đồng, trong đó gồm tiền nợ gốc: 15.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 60.000 đồng, tiền lãi quá hạn: 3.060.000 đồng theo Hợp đồng vay số 6784678 lập ngày 24/12/2022. Trả một lần cho Công ty cổ phần Đ ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng đồng vay số 6784678 ngày 24/12/2022.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Võ Đình T1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm 906.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Công ty cổ phần Đ không phải chịu án phí. Công ty cổ phần Đ được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 415.350 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0006001 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA [Ký tên] |
Bản án số 2190/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 2190/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TCHĐVTS
