Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 219/2024/HS-ST

Ngày: 30 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
  2. Ông Phan Hồng Việt

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng N - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 233/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 281/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn H, sinh năm 1976 tại tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: Khối V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Trần Văn P, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1958; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án số 40/2012/HSST ngày 29/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024 cho đến nay.

- Bị hại: Ông Phùng Thế B, sinh năm 1989; địa chỉ: 6 khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Vũ T, sinh năm 1971; địa chỉ: A Lô B, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Trần Anh Q. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 04/03/2024, Trần Văn H điều khiển xe đạp từ Chợ L đến trước quán S thuộc khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, thấy có nhiều ô tô đỗ ở lòng đường trước các quán không có người trông coi, H dựng xe đạp đối diện quán S rồi đi bộ sang dùng tay mở cửa các ô tô trên để tìm tài sản, khi mở được cửa xe ô tô biển số 61K-229.88 của ông Phùng Thế B, thấy hàng ghế sau có 01 ba lô màu đen, H lấy balo rồi đạp xe quay về phòng trọ tại địa chỉ I đường L, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tại đây, H kiểm tra bên trong balo thì có 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng, số tiền 50.400.000 đồng và 01 thiết bị Apple Air Tag màu trắng. H lấy số tiền 800.000 đồng đưa cho ông Trần A Q nhờ đóng tiền H thuê trọ của ông Nguyễn Vũ T chủ cơ sở trọ nói trên, H tiêu xài cá nhân hết 400.000 đồng, còn lại là 49.200.000 H đem đến bãi đất trống phía sau bãi xe Công an thành phố T cất giấu, H tháo sim điện thoại di động Iphone 12 Promax ra vứt bỏ và cất giấu ở trong vali phòng trọ, còn ba lô bên trong có 01 thiết bị Apple Air T để ở trước phòng trọ.

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 05/03/2024, ông Phùng Thế B trình báo sự việc bị mất trộm tài sản và cung cấp được định vị của chiếc điện thoại bị mất, Công an phường L theo định vị đến khu trọ của H thuê và phát hiện ba lô của ông B đang để trước phòng trọ. Cùng lúc này, H đi về phòng trọ thì thấy lực lượng Công an ở đây, biết hành vi trộm cắp đã bị phát hiện nên đến Công an phường L đầu thú.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max 128G, không có sim, màu vàng G; Số tiền 50.000.000 đồng; 01 (một) balo bằng da màu đen; 01 thiết bị nhãn hiệu Apple AirTag; 01 (một) xe đạp nhãn hiệu martin màu sơn xám, có giỏ chứa đồ phía trước màu đen.

Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố T ngày 12/3/2024 và ngày 22/3/2024 xác định:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128G, không có sim, màu vàng Gold trị giá 12.000.000 đồng.
  • 01 (một) balo bằng da màu đen trị giá 200.000 đồng.
  • 01 thiết bị nhãn hiệu Apple AirTag trị giá 400.000 đồng

Tổng giá trị tài sản Trần Văn H chiếm đoạt của Phùng Thế B là 63.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, ông T đã tự nguyện nộp lại số tiền 800.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 212/CT-VKS-TA ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt các bị cáo Trần Văn H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

2

Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe đạp nhãn hiệu Martin.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt bị truy tố, không thắc mắc hay khiếu nại gì. Lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về hành vi đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bản thân bị cáo hiện đang điều trị sau tai biến, nửa cơ thể của bị cáo vận động còn khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, ban đầu bị cáo còn vòng vo, không thừa nhận bản thân có mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại mà cho rằng việc lấy tài sản của bị hại là vô tình và việc cất dấu tài sản của bị hại là để sau này trả lại cho bị hại. Tuy nhiên, sau quá trình tranh tụng, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo Trần Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ 50 phút, ngày 04/03/2024, tại khu vực trước quán S thuộc khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Phùng Thế B 01 balo bằng da màu đen, 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng, 01 thiết bị Apple Air Tag màu trắng và số tiền 50.400.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 63.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì động cơ tư lợi, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người khác trong việc quản lý rồi lén lút chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của các bị cáo là cố ý trực tiếp.

Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xử phạt về hành vi phạm tội, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện bản chất xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

3

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú; ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Lời đề nghị mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[8] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ: 01 balo bằng da màu đen, 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng, 01 thiết bị Apple Air Tag màu trắng và 50.000.000 đồng là tài sản của ông Phùng Thế B, Cơ quan điều tra đã trả lại cho trả lại cho chủ sở hữu, ông B không yêu cầu bồi thường đối với số tiền 400.000 đồng mà H đã tiêu xài nên không xem xét.

Đối với 01 xe đạp nhãn hiệu Martin màu sơn xám là phương tiện của H sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 thẻ sim mạng Viettel có số thuê bao 0357290789, Công an phường L đã tổ chức truy tìm tại khu vực bãi đất trống phía sau bãi xe Công an thành phố T nhưng không tìm thấy nên không xem xét.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Các Điều 106, 136; Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo:

Trần Văn H từ 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe đạp nhãn hiệu Martin màu sơn xám, có giỏ chứa đồ phía trước màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/7/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

4

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tố Uyên

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Công an, Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Chánh án (để báo cáo);
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

5

- Lưu HS, THAHS, AV.

Nguyễn Tố Uyên

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

6

Vào hồi ... giờ 00 phút ngày 30 tháng 8 năm 2024;

Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
  2. Ông Phan Hồng Việt

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 233/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 281/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn Hải, sinh năm 1976 tại tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: Khối Vạn An, thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Căn cứ vào các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

2. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp đều hợp pháp.

3. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là tự nguyện, không trái pháp luật, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

4. Về Điều luật áp dụng:

Căn cứ vào:

7

  • Điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Các Điều 106, 136; Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

4. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Hải phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

5. Về mức hình phạt:

Xử phạt bị cáo:

Trần Văn Hải từ 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

6. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

7. Hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

8. Các vấn đề khác:

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe đạp nhãn hiệu Martin màu sơn xám, có giỏ chứa đồ phía trước màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/7/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

- Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn Hải phải chịu 200.000 đồng.

- Về quyền kháng cáo: Của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo luật định.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

Nghị án kết thúc vào hồi ......... giờ ......... phút cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

8

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tố Uyên

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 219/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 219/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lén lút chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger