Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG THÀNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 219/2023/HS-ST

Ngày: 27/10/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Đức Chung
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa:

Bà Huỳnh Đức Xuân Thương – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân huyện L, xét xử sơ thẩm công khai với hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm Trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai gồm: Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, thư ký Toà án. Điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai gồm: Bị cáo, Thư ký, cán bộ chiến sỹ thuộc nơi giam giữ, đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 214/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 231/2023/QĐXXST-HS ngày 09/10/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Sơn T, sinh năm 1996 tại Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: Ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nơi sinh sống: Ấp B, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; Gia đình bị cáo có 02 (Hai) anh em; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/7/2023, chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện L.

(Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Sơn T là người nghiện ma túy từ tháng 05 năm 2021 đến khi bị bắt, nguồn gốc ma túy do bị cáo T mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực gần đường số I, khu công nghiệp L, huyện L. Đến khoảng 22 giờ 45 phút ngày 15/7/2023, bị cáo T có nhu cầu sử dụng ma túy nên đi bộ đến gần đường số I, khu công nghiệp L gặp người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 400.000 đồng ma túy. Người này bán cho bị cáo T 02 đoạn ống hút màu xanh được hàn kín hai đầu, (01 đoạn kích thước 02x09cm và 01 đoạn kích thước 03x09cm), bên trong có chứa ma túy. Bị cáo cất số ma túy vừa mua được trong túi quần jean bên trái, phía trước rồi đi tìm nơi vắng vẻ để sử dụng, khi bị cáo đi đến đoạn đường hương lộ B thuộc ấp C, xã T, huyện L thì bị lực lượng Công an xã T tuần tra, kiểm tra phát hiện trong túi quần của bị cáo có 02 đoạn ống nhựa chứa ma túy như trên nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng, chuyển Công an huyện L xử lý theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định số 1516/PC09-GĐMT ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2009 gam, loại: Methamphetamine.

Quá trình tiến hành tố tụng bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Đ.

Tại bản Cáo trạng số: 203/CT-VKSLT ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Sơn T để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Sơn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị HĐXX:

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn T từ 14 đến 16 tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng:
  • + Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1746gam được niêm phong ký hiệu số 1516/KL-KTHS ngày 21/7/2023 đề nghị tịch thu tiêu huỷ;
  • - Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho bị cáo, không rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh điều tra xử lý sau.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra. Như vậy có đủ cơ sở để xác định:

Bị cáo Nguyễn Sơn T là người nghiện ma tuý, Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 15/7/2023, bị cáo mua ma tuý của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực gần đường Số I, khu Công nghiệp L, bị cáo mua 02 đoạn ống hút màu xanh chứa ma tuý với giá 400.000 đồng, sau đó bị cáo đi tìm nơi vắng vẻ để sử dụng. Khi bị cáo đến đoạn đường hương lộ B thuộc ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng Công an xã T kiểm tra phát hiện trong túi quần của bị cáo có 02 đoạn ống hút chứa ma tuý có khối lượng là 0,2009 gam loại Methamphetamine thì bị bắt giữ.

[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, hành vi của bị cáo T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2017), như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước.

Nên cần có mức án nghiêm tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo khi lượng hình, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo bị cáo thành một công dân tốt cho xã hội và nhằm mục đích răn đe phòng ngừa chung.

[6] Về xử lý vật chứng: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1746 gam được niêm phong ký hiệu số 1516/KL-KTHS ngày 21/7/2023, HĐXX xét thấy cần tuyên tịch thu tiêu huỷ theo quy định.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điều 106, 260, 327, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Sơn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn T 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2023.

  3. Về xử lý vật chứng:
  4. Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1746 gam được niêm phong ký hiệu số 1516/KL-KTHS ngày 21/7/2023 (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai).

  5. Về án phí: Bị cáo T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Long Thành;
  • - TAND, VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan CSĐT công an huyện Long Thành;
  • - Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 219/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 219/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Sơn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chát ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger