Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 219/2024/HS-PT

Ngày: 27-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mỹ.

Ông Lê Khắc Thịnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 164/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 03-6-1984; Nơi sinh: Tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1934 và con bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953; Có vợ Hà Thanh T1, sinh năm 1984; Có 03 người con: Lớn sinh năm 2008 và nhỏ sinh năm 2019; Có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Tiền án; Tiền sự: Không; Tạm giữ; Tạm giam: Khômg. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại có kháng cáo: Trần Tấn T2, sinh năm 1983 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra trong vụ án còn bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 17-8-2023 bị cáo Nguyễn Văn T cùng với bị hại Trần Tấn T2Nguyễn Văn H1 tổ chức nhậu tại nhà của bị cáo T tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, bị cáo T với anh T2 xảy ra mâu thuẩn cự cải với nhau nên bị cáo T dùng tay đánh anh T2 01 cái trúng vào vai nhưng không gây thương tích, lúc này anh T2 lấy 02 con dao cầm trên hai tay để chém nhưng được anh H1 và chị T1 can ngăn và giật lấy lại 02 con dao. Sau đó anh T2 đi về nhà lấy 01 con dao đến nhà bị cáo T tiếp tục cự cãi, khi đến trước hàng rào thì anh H1, chị T1, chị B1 can ngăn và giật lấy con dao lại và lôi kéo anh T2 về nhà. Đến khoảng 12 giờ 25 phút cùng ngày, anh T2 tiếp tục cầm dao bằng kim loại dài 30cm; cán dao dài 09cm; lưỡi dao dài 21cm; phần rộng là 05cm lại nhà của bị cáo T đứng chửi tục, lúc này cửa hàng rào nhà bị cáo T chỉ khép lại không có khóa, sau đó anh T2 đẩy cửa rào mở ra được khoảng 01m thì Nguyễn Minh T3 con của bị cáo T nhìn thấy và kêu bị cáo T đang ngủ trên võng thức dậy. Sau khi thức dậy bị cáo T nhìn thấy anh T2 bước vô hàng rào nên bị cáo T chạy đến gốc xoài, cách chỗ bị cáo T nằm võng ngủ khoảng 05m đến 07m lấy cái leng bằng kim loại dài 120cm; cán leng dài 92cm; đường kính 03 cm; lưỡi leng dài 28cm; phần rộng lưỡi leng là 17cm cầm trên tay trái, lúc này anh T2 thấy T cầm leng nên đi lùi lại nhưng vẫn còn trong hàng rào khoảng 30cm, thì bị cáo T chạy đến dùng leng đánh từ trên xuống 01 cái trúng vào đầu của anh T2, làm anh T2 té ngã ra phía sau, nằm xuống ngoài hàng rào. Bị cáo T ném bỏ cái leng xuống đất, lúc này mọi người xung quanh tổ chức đưa anh T2 đến Trạm y tế A băng bó vết thương, do thương tích nặng nên được chuyển đến Bệnh viện Đ cấp cứu, tiếp tục chuyển đến Bệnh viện Đ1 điều trị, đến ngày 30-8-2023 thì ra viện.

Vật chứng của vụ án thu giữ gồm:

  • 01 (một) cái leng kim loại dài 120cm, cán leng dài 92cm, đường kính 03 cm, lưỡi leng dài 28cm, phần rộng lưỡi leng là 17cm.
  • 01 (một) con dao bằng kim loại dài 30cm, cán dao dài 09cm, lưỡi dao dài 21 cm, phần rộng là 05cm. Trong quá trình điều tra đã xử lý trả lại con dao cho anh Trần Tấn T2 quản lý sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 430/KLTTCT-TTPYĐT, ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận:

  • + Sẹo dẫn lưu trùng sẹo mổ hình vòng cung thái dương, chẩm, đỉnh trán phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương 02%.
  • + Sẹo vết thương phần mềm đỉnh, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương 02%.
  • + Máu tụ ngoài màng cứng đã điều trị không có di chứng thần kinh, hiện không còn tổn thương trên chuẩn đoán hình ảnh. Tỷ lệ tổn thương 05%.
  • + Máu tụ dưới màng cứng đã điều trị không có di chứng thần kinh, hiện không còn tổn thương trên chuẩn đoán hình ảnh. Tỷ lệ tổn thương 08%.
  • + Tổn thương não vùng thái dương đỉnh phải đường kính khoảng 3,3cm không có di chứng chức năng hệ thần kinh. Tỷ lệ tổn thương 26%.
  • + Khuyết sọ vùng trán- thái dương- đỉnh phải đường kính khoảng 9,5cm đã được phẩu thuật đặt lại nắp sọ. Tỷ lệ tổn thương 26%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Tấn T2 tại thời điểm giám định là 54% (năm mươi bốn phần trăm).

- Kết luận khác:

  • + Sẹo mổ do quá trình điều trị gây ra.
  • + Các tổn thương còn lại do vật tày gây ra.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt, đồng thời bị hại Trần Tấn T2 có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo bổ sung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T với tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, bị hại cũng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo có cung cấp thêm xác nhận gia đình khó khăn, đang nuôi mẹ già đang bệnh và nuôi con còn nhỏ, đã ly hôn vợ. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và mức hình phạt 03 (ba) năm tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, bị hại giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo, do bị cáo phạm tội thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng nên không có căn cứ xem xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Ngày 17-8-2023, do có cự cãi với bị hại T2, bị cáo T đã có hành vi dùng leng là hung khí nguy hiểm đánh gây thương tích cho bị hại tại thời điểm giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 54%.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức được việc dùng hung khí nguy hiểm đánh vào cơ thể người khác sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Bị cáo có cung cấp thêm xác nhận gia đình khó khăn, đang nuôi mẹ già đang bệnh và nuôi con còn nhỏ, đã ly hôn với vợ. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và đã áp dụng Điều 54 bộ luật hình sự để xét xử dưới khung đối với bị cáo, đồng thời mức hình phạt 03 (ba) năm tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, bị hại Trần Tấn T2 giữ nguyên phần quyết định của án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo, do bị cáo phạm tội thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng nên không có căn cứ xem xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T và kháng cáo của bị hại Trần Tấn T2. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Tân Hồng (02 bản);
  • - VKSND huyện Tân Hồng ;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hồng ;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Tân Hồng;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Tân Hồng;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA, (Hào).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 219/2024/HS-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 219/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger