|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 219/2024/HS-ST Ngày 26-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 191/2024/TLST- HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 797/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Xuân T, sinh ngày 19 tháng 10 năm 1984, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số D T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân V và bà Trần Thi L; bị cáo có vợ Bùi Thị T1 (đã ly hôn) và 01 con; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 15/5/2024, tạm giam ngày 24/5/2024; có mặt.
2. Phạm Thị Thanh T2, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1994, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số B C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hữu T3 (đã chết) và bà Bùi Thị X; bị cáo có chồng Trần Trung H và 01 con; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 15/5/2024, tạm giam ngày 24/5/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12h30 phút ngày 15/5/2024 Công an phường H, quận L, thành phố Hải Phòng làm nhiệm vụ kiểm tra hành chính khách sạn H2, địa chỉ tại số C T, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng. Tại khu vực sảnh tầng 1 của khách sạn, tổ công tác phát hiện Nguyễn Xuân T và Phạm Thị Thanh T2 có biểu hiện nghi vấn tội về ma túy. Quá trình kiểm tra, tổ công tác thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của T 01 túi nilon màu trắng có mép viền màu xanh kích thước 02cm x 03cm bên trong túi nilon chứa tinh thể màu trắng (MS1); thu giữ trong túi xách màu đen của T2 01 gói giấy bạc kích thước khoảng 0,5cm x 01cm chứa tinh thể màu trắng (MS2); 01 gói giấy bạc chứa mảnh viên nén màu hồng (MS3); 01 gói giấy bạc bên trong có 01 gói giấy bạc chứa tinh thể màu trắng (MS4). Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của T 03 điện thoại di động; thu giữ của T2 01 điện thoại di động, 01 xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ1 - 413.64. Tổ công tác đã đưa T và T2 cùng vật chứng về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L đã tiến hành khám xét khẩn cấp phòng 204 khách sạn H2 đã thu giữ: 02 túi nilon màu trắng bám dính chất bột màu hồng (KX1) và 01 túi nilon màu trắng bên trong bám dính tinh thể màu trắng (KX2) tại gạt tàn trên mặt tủ cạnh đầu giường; 01 nắp nhựa có gắn 01 coóng thủy tinh và ống hút; 01 chai nước bằng nhựa có chữ Lavie trong thùng rác cạnh cửa nhà vệ sinh.
Bản kết luận giám định số 559/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: tinh thể màu trắng (MS1) là ma túy, có khối lượng là 0,24 gam, loại Methamphetamine; tinh thể màu trắng (MS2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,05 gam, loại Methaphetamine; 01 mảnh viên nén màu hồng (MS3) gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,03 gam, loại Methamphetamine; tinh thể màu trắng (MS4) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,13 gam, loại Methamphetamine.
Bản kết luận giám định số 600/KL-KTHS ngày 20/5/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Chất bột màu hồng bám dính trong 02 vỏ túi nilon (KX1) là loại Methaphetamine và H1, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng ma túy trên; tinh thể màu trắng bám dính trong 01 vỏ túi nilon (KX2) là loại Methamphetamine, không đủ diều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy trên.
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test thử cho kết quả: Phạm Thị Thanh T2 và Nguyễn Xuân T dương tính với chất ma túy Methamphetamine, M.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T khai nhận: khoảng 19 giờ 20 phút ngày 14/5/2024, T liên hệ với nam giới tên là Phai nhà ở ngõ B Đà Nẵng, N, Hải Phòng theo số điện thoại 0901.569.xxx hỏi mua 800.000 đồng ma túy đá và ma túy phiến hồng, P hẹn T ra đầu ngõ B Đà Nẵng, Ngô Q, Hải Phòng. T mang theo 01 coóng thủy tinh và 02 ống hút bằng nhựa đến điểm hẹn gặp P, P nhận tiền rồi đưa cho T 03 túi nilon màu trắng bên trong chứa ma túy đá và 01 túi nilon bên trong có 01 gói giấy bạc chứa 02 viên ma túy hồng phiến. T nhận số ma túy trên cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. Sau khi mua được ma túy, T gọi điện rủ Phạm Thị Thanh T2 đến khách sạn H2, địa chỉ số C T, Hồ N, Lê C, Hải Phòng sử dụng ma túy, T2 đồng ý. Khoảng 21 giờ ngày 14/5/2024, T và T2 vào khách sạn H2 thuê phòng 204. Tại phòng 204, T dùng chai nước có sẵn trong phòng, coóng thủy tinh, ống hút nhựa lắp thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã. T lấy các túi ma túy đá và ma túy hồng phiến đặt trên mặt bàn cạnh đầu giường ngủ. T cho 01 viên ma túy hồng phiến vào trong vỏ túi nilon, nghiền vụn ra, đổ vào trong coóng. T và T2 cùng nhau sử dụng ma túy, khi sử dụng T là người châm lửa đốt ma túy trong coóng cho T2 sử dụng. Khoảng 05 giờ ngày 15/5/ 2024, T ra khỏi phòng đi ăn sáng. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, T quay lại khách sạn để cùng T2 sử dụng ma túy. T và T2 sử dụng ma túy đến khoảng 12 giờ cùng ngày. T gói túi ma túy còn lại trong 01 mảnh giấy màu vàng rồi cất trong túi quần phía trước bên phải sau đó đi xuống quầy lễ tân để thanh toán trả phòng còn T2 ở lại phòng dọn dẹp và xuống sau. Khi T đi xuống sảnh thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra bắt giữ. Mục đích T cất giấu gói ma túy còn lại để mang về sử dụng cho bản thân.
Phạm Thị Thanh T2 khai nhận: khoảng 21 giờ ngày 14/5/2024, T rủ T2 đi nhà nghỉ tâm sự, T2 đồng ý. T2 điều khiển xe máy nhãn hiệu Dibao biểm kiểm soát 15MĐ1- 413.64 đến khách sạn H2 số C T, phường H, quận L, Hải Phòng, T là người thuê phòng 204. Tại phòng 204, T bỏ bộ sử dụng ma túy đá ra, T2 thấy T sử dụng ma túy và để bộ dụng cụ sử dụng ở trên bàn, T2 tự ra lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. T2 và T ở trong phòng cùng sử dụng ma túy và nói chuyện với nhau đến khoảng 05 giờ ngày 15/5/2024 thì T bảo đi về có việc, còn T2 ngủ trong khách sạn. Quá trình T2 và T sử dụng ma túy ở trong phòng T có bỏ ra 02 túi nilon chứa ma túy và 02 viên ma túy hồng phiến. Đến hơn 07 giờ cùng ngày thì T quay loại T2 và T tiếp tục sử dụng ma túy đá đến khoảng hơn 12 giờ cùng ngày thì T2 bảo T đi về. Lúc thu dọn đồ đạc, T2 thấy trên bàn có 01 mảnh giấy bạc chứa một ít ma túy đã và 01 mảnh viên ma túy hồng phiến, T2 gói 02 mảnh giấy bạc chứa ma túy này lại rồi để vào trong túi xách của T2 với ý định đưa lại cho T vì T đi xuống sảnh trước để thanh toán tiền phòng. Bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá T2 vất vào trong thùng rác trong phòng, 02 vỏ túi nilon T2 vất vào trong gạt tàn thuốc là để trên bàn. Sau đó, T2 cầm túi xách chưa ma túy xuống sảnh chỗ T đang thanh toán tiền thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ như nêu trên. Quá trình sử dụng ma túy, T2 không có hành vi châm lửa, không cho ma túy vào coóng để T sử dụng.
Về vật chứng: 02 phong bì niêm phong số 559MT/PC09 và 600NT/PC09 chứa lượng ma túy và vỏ bao còn lại sau giám định; 01 nắp nhựa có gắn 01 coóng thủy tinh và ống hút; 01 chai nước bằng nhựa có chữ L1; 03 điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Xuân T; 01 điện thoại di động của Phạm Thị Thanh T2.
Đối với xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ1 - 413.64, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan điều tra Công an quận L tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 201/CT-VKSLC ngày 23/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Phạm Thị Thanh T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Nguyễn Xuân T với mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, mức án từ 21 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội từ 51 đến 60 tháng tù.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Phạm Thị Thanh T2 với mức án từ 18 đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 599MT/PC09 có đầy đủ chữ ký của người liên quan tại mặt sau, 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 600MT/PC09, 01 nắp nhựa gắn coóng thủy tinh đã vỡ và ống hút, 01 chai nước có chữ lavi. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng không lên nguồn thu giữ của T, 01 điện thoại Oppo màu đen trắng đã qua sử dụng, không lên nguồn thu giữ của T2. Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động Iphone 5 màu vàng đã qua sử dụng, không lên nguồn và 01 điện thoại Samsung đã qua sử dụng không lên nguồn. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh:
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
- [2.1] Bị cáo Nguyễn Xuân T đã có hành vi chuẩn bị ma túy, dụng cụ sử dụng và địa điểm thuê để cho Phạm Thị Thanh T2 sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân T đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- [2.2] Bị cáo Nguyễn Xuân T đã có hành vi cất giữ bất hợp pháp 0,24 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- [2.3] Bị cáo Phạm Thị Thanh T2 đã có hành vi cất giữ bất hợp pháp 0,21 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Thị Thanh T2 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác, vì vậy cần xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng:
[5] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
[6] Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.
- Về hình phạt:
[7] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Các bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 255 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về việc xử lý vật chứng:
[9] Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 599MT/PC09 có đầy đủ chữ ký của người liên quan tại mặt sau, 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 600MT/PC09, 01 nắp nhựa gắn coóng thủy tinh đã vỡ và ống hút và 01 chai nước có chữ lavi là vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị.
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng không lên nguồn thu giữ của T và 01 điện thoại Oppo màu đen trắng đã qua sử dụng, không lên nguồn thu giữ của T2 là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.
- + Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động Iphone 5 màu vàng đã qua sử dụng, không lên nguồn và 01 điện thoại Samsung đã qua sử dụng không lên nguồn do không liên quan đến việc phạm tội.
- Về án phí:
[10] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng:
[11] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải chấp hình phạt chung của hai tội là 54 (năm mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2024.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thanh T2 phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thanh T2 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2024.
- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 599MT/PC09 có đầy đủ chữ ký của người liên quan tại mặt sau, 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 600MT/PC09, 01 nắp nhựa gắn coóng thủy tinh đã vỡ và ống hút và 01 chai nước có chữ lavi.
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng không lên nguồn và 01 điện thoại Oppo màu đen trắng đã qua sử dụng, không lên nguồn.
- + Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động Iphone 5 màu vàng đã qua sử dụng, không lên nguồn và 01 điện thoại Samsung đã qua sử dụng không lên nguồn.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Nguyễn Xuân T và Phạm Thị Thanh T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Xuân T và Phạm Thị Thanh T2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hương |
Bản án số 219/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 219/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T- T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
