|
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 219/2025/DS-PT
Ngày: 31/10/2025
V/v: “Tranh chấp QSDĐ, di dời tài sản trên đất và yêu cầu xác lập quyền sở hữu tài sản trên đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khánh;
Các Thẩm phán: Ông Thái Duy Nhiệm;
Ông Bùi Xuân Trọng.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký viên.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức M, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 31 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 306/TLPT-DS ngày 06 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời tài sản trên đất và yêu cầu xác lập quyền sở hữu tài sản trên đất” do có kháng cáo của bị đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4297/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 10 năm 2025 giữa:
- * Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn L, xã Y, tỉnh Lạng Sơn (trước đây là xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn).
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn L, xã Y, tỉnh Lạng Sơn (trước đây là xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn).
- * Bị đơn: Ông Ngô Văn L2, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, tỉnh Lạng Sơn (trước đây là xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn).
-
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Thái Thị X, sinh năm 1959;
- - Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1987;
- - Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990;
- - Bà Nông Thị T, sinh năm 1986;
- Cùng địa chỉ: Thôn L, xã Y, tỉnh Lạng Sơn (trước đây là xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn).
- - Bà Hà Thị T1, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn Q, xã Y, tỉnh Lạng Sơn (trước đây là xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn).
- - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L.
- - Ủy ban nhân dân xã Y, tỉnh Lạng Sơn (Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn).
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn L1 và ông Ngô Văn L2 có mặt, bà Thái Thị X có đơn xin xét xử vắng mặt, còn các đương sự khác đều vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn L1 thống nhất trình bày:
Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp: Từ năm 1993, gia đình ông Nguyễn Văn L đã khai phá và canh tác, sử dụng ổn định thửa đất 65, 66 tờ bản đồ số 80 để trồng cây Ngô, Đ1, L3... sau đó trồng cây Keo, Bạch đàn và đã khai thác được 01 lứa cây Bạch đàn, khai thác được 02 lứa cây Keo trưởng thành. Đến ngày 01/11/2013, gia đình ông Nguyễn Văn L đã được Uỷ ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là GCNQSDĐ) số BL 495593 đối với thửa đất 65, tờ bản đồ số 80, diện tích 6.630 m² và GCNQSDĐ số BL 495592 đối với thửa đất 66, diện tích 1.484 m². Từ đó đến nay gia đình nguyên đơn vẫn đang trồng cây Keo, cây Lát, cây Xoan trên toàn bộ thửa đất 65, 66 tờ bản đồ số 80.
Hai thửa đất này có phần giáp ranh tiếp giáp với đất nhà bà Hà Thị T1 tại thửa đất số 41, tờ bản đồ số 80, ranh giới được xác định bằng hàng rào cây tre do bà Hà Thị T1 (chủ đất cũ đã chuyển nhượng cho bị đơn - ông Ngô Văn L2) trồng và hàng rào cây găng do gia đình ông Nguyễn Văn L trồng từ trước năm 2010; sau khi nhận chuyển nhượng đất, ông Ngô Văn L2 đã dùng máy xúc, chặt phá hàng rào cây Tre, hiện chỉ còn hàng rào cây Găng. Từ trước đến nay, gia đình ông Nguyễn Văn L và bà Hà Thị T1 cùng nhau sử dụng ổn định theo ranh giới hàng rào cây đã trồng, không có việc lấn chiếm hay xảy ra tranh chấp.
Việc xảy ra tranh chấp bắt đầu từ ngày 27/9/2023, do ông Ngô Văn L2 đã tự ý thuê người đo đạc, xác định ranh giới theo GCNQSDĐ và đóng 4 cọc sắt phi 16 lấn chiếm sang phần đất của gia đình ông Nguyễn Văn L đang sử dụng.
Nguyên đơn đề nghị Tòa án:
- - Buộc ông Ngô Văn L2 phải trả lại diện tích đất 136m² thuộc thửa đất số 41 tờ bản đồ số 80 (ký hiệu trên phụ lục mảnh trích đo là thửa tạm số 41.1) bản đồ địa chính xã Y; có vị trí đỉnh thửa A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8 và yêu cầu được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ số cây cối do nguyên đơn trồng trên phần diện tích đất tranh chấp.
- - Rút phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc di dời tài sản trên diện tích đất tranh chấp do tại buổi xem xét thẩm định, bị đơn ông Ngô Văn L2 đã tự nhổ 04 cọc sắt trên phần đất tranh chấp.
- - Yêu cầu huỷ một phần GCNQSDĐ số DG 675797 cấp ngày 29/12/2022 cho ông Ngô Văn L2 đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ số 80.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Ngô Văn L2 trình bày:
Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp, vào năm 2020 ông Ngô Văn L2 có nhận chuyển nhượng thửa đất trồng cây lâu năm số 41, tờ bản đồ số 80, diện tích 2.933 m² của bà Hà Thị T1, đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục và đến ngày 29/12/2022 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp GCNQSDĐ số DG675797 theo quy định.
Sau khi được cấp GCNQSDĐ từ đầu năm 2023 ông bắt đầu trồng cây Keo trên đất, do trên đất đã có hàng cây tre từ trước khi mua đất của bà T1 (hàng tre này mọc không thẳng hàng), để thuận tiện cho việc trồng cây keo thì bị đơn đã phá, múc hàng cây tre. Trong quá trình canh tác ông Ngô Văn L2 thấy gia đình ông L trồng hàng rào cây Găng nhằm lấn chiếm đất dẫn đến ranh giới không được chuẩn như cũ nên có thuê người đến đo đạc lại diện tích thửa 41 đã được cấp theo GCNQSDĐ để xác định ranh giới và có đóng 4 cọc sắt (cách đều vị trí ranh giới hàng rào cũ vào trong phần đất gia đình ông Nguyễn Văn L khoảng từ 01m đến 03m theo vị trí mà bên đơn vị đo đạc đã xác định.
Tại buổi làm việc, khi Toà án tiến hành xem xét thẩm định, ông Ngô Văn L2 tự xác định lại ranh giới tranh chấp cho trùng với ranh giới thửa 41 trên bản đồ địa chính cấp GCNQSDĐ nên đã tự nhổ bỏ 04 cọc sắt đóng trước đây; đường ranh giới mới được xác định lại bằng cách cắm 03 đoạn cọc sắt + cành cây để buộc dây đánh dấu xác định vị trí (cơ bản trùng với hàng rào cây Găng), dẫn đến diện tích tranh chấp bị thu hẹp lại, nay chỉ còn 136 m² như kết quả trích đo.
Bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bởi ranh giới thửa đất 41 tờ bản đồ số 80 đã được xác định kể từ trước khi ông nhận chuyển nhượng với bà Hà Thị T1 theo đúng theo bản đồ địa chính, do vậy bị đơn yêu cầu giữ nguyên GCNQSDĐ số DG675797 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 29/12/2022.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn, gồm bà Thái Thị X, ông Nguyễn Văn N, bà Nông Thị T, ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Nhất trí với ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị T1 trình bày:
Trước khi về làm dâu (năm 1991) bà Hà Thị T1 đã thấy bố mẹ chồng bà canh tác, sử dụng thửa đất 41 và có trồng một hàng rào cây Tre để phân chia ranh giới, tiếp giáp với đất gia đình nhà ông Nguyễn Văn L. Kể từ khi bà được bố mẹ chồng chia thửa đất 41 để canh tác thì gia đình bà và gia đình ông Nguyễn Văn L đều thống nhất sử dụng theo ranh giới là hàng rào cây Tre, cây Găng mà hai bên gia đình đã trồng (không được thẳng hàng do địa hình đất xen lẫn đá); không xảy ra tranh chấp. Đến năm 2011 gia đình bà và gia đình ông Nguyễn Văn L có được cùng nhau xác định ranh giới thực tế để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ. Năm 2012 chồng bà chết nên đến năm 2014 bà làm thủ tục thừa kế và đến ngày 20/02/2014 được UBND huyện H cấp GCNQSDĐ số BL 498896 mang tên Hà Thị T1.
Khoảng năm 2020 bà chuyển nhượng thửa đất số 41 cho ông Ngô Văn L2, khi đó bà và ông Ngô Văn L2 có được cùng nhau ra ngoài thực địa để chỉ diện tích đất trên thực tế mà bà vẫn canh tác, sử dụng và bà có được chỉ phần ranh giới thửa 41 giáp ranh với nhà ông Nguyễn Văn L theo hàng rào tre, găng cho ông Ngô Văn L2 biết rõ. Về việc ông Nguyễn Văn L được cấp sổ đỏ trước và có hàng rào cây găng, tre làm ranh giới, trong khi đó sổ đỏ của bà được cấp sau và cấp trùng lên phần đất của ông Nguyễn Văn L là do bà không để ý và trong quá trình canh tác cũng không đo đạc, kiểm tra; việc bà chuyển nhượng và ông Ngô Văn L2 nhận chuyển nhượng là theo diện tích đất thực tế sử dụng, theo ranh giới là hàng rào cây găng, cây tre.
Đối với diện tích đang tranh chấp thì từ trước đến nay, bà thấy nhà ông Nguyễn Văn L vẫn trực tiếp quản lý, sử dụng để trồng các loại cây trên đất (trồng cây N1, L3, K...). Sau khi được xem kết quả trích đo phần diện tích đất tranh chấp, bà khẳng định việc cấp sổ đỏ cho bà đối với thửa đất số 41 và sau nay bà đã chuyển nhượng cho ông Ngô Văn L2 (ông Ngô Văn L2 cũng đã được cấp sổ đỏ) là cấp trùng và vượt qua ranh giới hàng rào T2, G.
Người đại diện theo uỷ quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L trình bày: Thời điểm thực hiện thủ tục chuyển nhượng và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 675797 đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ số 80, Sở T, Văn phòng Đ2 và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ2 không nhận được đơn thư phản ánh kiến nghị, tranh chấp đất đai đối với thửa đất nêu trên, hồ sơ đảm bảo các điều kiện người sử dụng đất được thực hiện các quyền quy định tại Luật Đất đai năm 2013. Ngày 29/12/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp GCNQSDĐ là đúng đối tượng, đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định. Việc ông Nguyễn Văn L yêu cầu huỷ một phần GCNQSDĐ của ông Ngô Văn L2 là không có cơ sở và đề nghị Toà án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện H, ông H Trang Viên trình bày:
GCNQSDĐ số BL 495592 ngày 01/11/2013 đối với thửa đất số 66 và GCNQSDĐ số BL 495593 đối với thửa đất số 65, tờ bản đồ số 80 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn L, bà Thái Thị X; GCNQSDĐ số BL 498896 đối với thửa đất số 41 mang tên bà Hà Thị T1 được cấp theo dự án thiết kế kỹ thuật dự toán xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính khu vực 46 xã thuộc các huyện H, L được phê duyệt theo Quyết định số 2173/QĐ-UBND ngày 30/10/2009 của UBND tỉnh L.
Do thực hiện theo dự án cấp đồng loạt nên chỉ thực hiện ký giáp ranh đối với các thửa đất là đất ở, không thực hiện ký giáp ranh đối với thửa đất nông nghiệp nhưng Bản đồ địa chính xã Y đã được đo đạc trên thực tế, UBND xã Y đã xác nhận đo vẽ đúng hiện trạng và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L ký duyệt đưa vào sử dụng nên diện tích được cấp theo GCNQSDĐ là đúng với diện tích đã đo đạc của các chủ sử dụng đất quản lý, sử dụng tại thời điểm đo đạc.
Ranh giới hiện tại do các chủ sử dụng đất trong quá trình quản lý, sử dụng không có ranh giới cứng nên có thay đổi về ranh giới, cần phải xem xét tại thực địa và các giấy tờ có liên quan.
* Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Diện tích đất tranh chấp được hai bên đương sự xác định 136 m² thuộc một phần thửa đất số 41 tiếp giáp thửa 65, 66. Các tài sản – cây cối, hàng rào cây Găng (có chiều dài 70m) nằm trên phần diện tích đất tranh chấp đều do gia đình ông Nguyễn Văn L trồng; 03 gốc tre nằm trên hàng rào (không còn cây đứng); có 04 cọc sắt do ông Ngô Văn L2 đóng trên phần diện tích đất tranh chấp, tuy nhiên ngay tại buổi xem xét thẩm định bị đơn đã tự nhổ bỏ không còn nữa. Diện tích đất tranh chấp và ranh giới các thửa đất số 41, 65, 66 không có tranh chấp với người thứ ba. Trị giá đất tranh chấp 136 m² x 60.000 đồng/m² = 8.160.000 đồng, tổng trị giá tài sản - số cây trên đất là 1.924.000 đồng.
Các đương sự đều nhất trí, không có khiếu nại đối với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã áp dụng các Điều 5, 6, 11, 17, 23, 25, 26, 31, 131, 133, 236, 259 Luật Đất đai 2024; các Điều 160, 161, 164, 169, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 9 Điều 26, khoản 1, 4 Điều 34, Điều 35, Điều 37, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 165, Điều 166, Điều 186, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; khoản 2, 5 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi kiện buộc di dời tài sản là 04 cọc sắt đóng trên đất tranh chấp do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện và đối tượng tranh chấp không còn tồn tại.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L.
Ông Nguyễn Văn L được quyền quản lý, sử dụng đối với diện tích đất 136 m² thuộc một phần thửa đất số 41 (ký hiệu trên trích đo là thửa tạm số 41.1 có ranh giới đường gấp khúc được xác định theo vị trí đỉnh thửa A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8) tờ bản đồ 80 - bản đồ địa chính xã Y; đất đã được cấp GCNQSDĐ số DG 675797, số vào sổ cấp GCN: CS-05608, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 29/12/2022 mang tên ông Ngô Văn L2; địa chỉ đất tại: Thôn Q, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Ông Nguyễn Văn L được quyền tiếp tục sở hữu tài sản trên đất gồm 35 cây Keo (trong đó có 33 cây đường kính gốc từ 02 cm đến 05 cm và 02 cây đường kính từ 05-10cm); 03 cây Lát đường kính dưới 05cm; 01 cây Xoan đường kính trên 30cm; 01 hàng rào trồng cây Găng (đặc điểm được mô tả theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản tranh chấp ngày 13/6/2024).
(Chi tiết cụ thể các thông số kỹ thuật và thông tin liên quan đến đất và tài sản trên đất có “TRÍCH ĐO KHU ĐẤT TRANH CHẤP” do Công ty cổ phần T3 – Chi nhánh L5 đo vẽ ngày 13/6/2024 được Ủy ban nhân dân xã Y xác nhận ngày 28/6/2024 gửi kèm theo bản án).
-
Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 675797, số vào sổ cấp GCN: CS-05608, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 29/12/2022 mang tên ông Ngô Văn L2 đối với phần diện tích đất 136 m² thuộc một phần thửa đất số 41, tờ bản đồ số 80 có tổng diện tích 2.933 m²; đất có địa chỉ tại thôn Q, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thi hành; người quản lý, sử dụng đất có quyền, nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký, kê khai, chỉnh lý biến động đất đai; điều chỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai, phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chí phí tố tụng, án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/3/2025, bị đơn ông Ngô Văn L2 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với nội dung yêu cầu được quyền quản lý, sử dụng đối với diện tích đất 136 m² thuộc một phần thửa đất số 41, tờ bản đồ số 80 bản đồ địa chính xã Y theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 675797, số vào sổ cấp GCN: CS-05608, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 29/12/2022 cho ông Ngô Văn L2 .
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội có quan điểm: Sau khi phân tích tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện cho Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
-
Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Ngô Văn L2 có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy sự vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; việc tiếp tục giải quyết vụ án như đề nghị của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [1.3] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết, căn cứ vào đơn khởi kiện, biên bản về kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại diện tích đất 136 m² thuộc một phần thửa đất số 41 (ký hiệu trên trích đo là thửa tạm số 41.1 có ranh giới đường gấp khúc được xác định theo vị trí đỉnh thửa A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8) tờ bản đồ 80, bản đồ địa chính xã Y; đất đã được cấp GCNQSDĐ số DG 675797, số vào sổ cấp GCN: CS-05608, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 29/12/2022 mang tên ông Ngô Văn L2; địa chỉ đất tại: Thôn Q, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn và được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ số cây cối trên đất; buộc di dời 04 cọc sắt trên diện tích đất tranh chấp và hủy một phần GCNQSDĐ số DG 675797 cấp ngày 29/12/2022 mang tên ông Ngô Văn L2 đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ số 80. Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời tài sản trên đất, xác lập quyền sở hữu tài sản trên đất và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, phù hợp với quy định của pháp luật.
-
Xét kháng cáo của bị đơn ông Ngô Văn L2, Hội đồng xét xử thấy:
- [2.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được quyền quản lý, sử dụng 136m² đất và sở hữu tài sản cây trên đất tranh chấp: Trước hết, về nguồn gốc đất tranh chấp; nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị T1 và theo các tài liệu do UBND xã Y cung cấp thể hiện gia đình nguyên đơn đã khai phá thửa đất số 65, 66 từ lâu đời và canh tác, sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993 để trồng cây Ngô, Đỗ L3, Bạch đàn (hiện gia đình nguyên đơn đang trồng cây Keo, L4, Xoan trên đất). Hai thửa đất số 65, 66 có một cạnh tiếp giáp ranh giới với thửa đất số 41, tờ bản đồ số 80 của bà Hà Thị T1; nguyên đơn, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn và chủ đất cũ là bà Hà Thị T1 đều thừa nhận trong quá trình canh tác hai gia đình đã cùng nhau xác định ranh giới bằng hàng rào tre do bố mẹ chồng bà Hà Thị T1 trồng và hàng rào găng do gia đình ông Nguyễn Văn L trồng từ trước năm 2010, hiện hàng rào cây găng vẫn còn, không có tranh chấp, lấn chiếm. Đến khoảng năm 2020, bà Hà Thị T1 chuyển nhượng một số thửa đất trong đó có thửa đất số 41 cho ông Ngô Văn L2, đến năm 2023 ông L2 tự đưa người vào đo đạc, cắm cọc sắt sang phần đất nhà ông L đang canh tác, sử dụng thì hai bên mới xảy ra tranh chấp.
- [2.2] Về quá trình quản lý, sử dụng, chuyển nhượng đất: Các đương sự thừa nhận thửa đất số 41, tờ bản đồ số 80 là do bố mẹ chồng bà Hà Thị T1 khai phá từ trước khi bà về làm dâu (năm 1991), từ lúc bố mẹ chồng bà canh tác, sử dụng thì ông bà đã trồng một hàng rào cây tre để phân chia ranh giới tiếp giáp với đất gia đình nhà ông Nguyễn Văn L; khi bà về làm dâu thì vợ chồng bà cũng chỉ biết sử dụng theo đúng ranh giới cũ của bố mẹ chồng đã xác định. Sau đó gia đình ông Nguyễn Văn L cũng trồng hàng rào cây Găng xen kẽ hàng rào cây Tre theo ranh giới thực tế hai bên sử dụng. Kể từ khi được bố mẹ chia đất, gia đình bà T1 và gia đình ông L đều thống nhất canh tác theo ranh giới định sẵn; quá trình canh tác, sử dụng không xảy ra tranh chấp. Khi chuyển nhượng thửa đất số 41, bà và ông Ngô Văn L2 được cùng nhau ra ngoài thực địa để xác định ranh giới diện tích đất trên thực tế canh tác, sử dụng theo hàng rào T2, G.
- [2.3] Tại Công văn số 79/CV-UBND ngày 09/4/2024 của UBND xã Y về nguồn gốc, quá trình quản lý sử dụng đất đều xác định hộ ông Nguyễn Văn L, bà Hà Thị T1 sử dụng ổn định các thửa đất số 65, 66, 41 từ trước năm 1993, đến năm 2010-2011 thì được đo đạc bản đồ địa chính theo Dự án 46 xã của tỉnh Lạng Sơn. Đến cuối năm 2022 bà T1 chuyển nhượng thửa đất số 41 cho ông L2, ông L2 có thuê công ty Đ3 để tự xác định mốc giới thửa đất thì hai bên gia đình mới xảy ra tranh chấp.
- [2.4] Kết quả xem xét thẩm định, đo đạc xác định phần diện tích đất tranh chấp 136 m² thuộc một phần thửa đất số 41, tờ bản đồ số 80 bản đồ địa chính xã Y; tuy nhiên hiện trạng tất cả tài sản bao gồm các loại cây Keo, cây Lát, cây Xoan trồng trên đất tranh chấp tại phần diện tích 136 m² ông Ngô Văn L2 thừa nhận thuộc sở hữu của hộ gia đình ông Nguyễn Văn L, hiện trạng thực tế vẫn còn các gốc cây Tre và hàng cây Găng xen lẫn tại phần đất giáp ranh.
- [2.5] Đối với hàng rào cây Găng các bên đương sự đều thừa nhận do nguyên đơn trồng, tuy nhiên phần trình bày có mâu thuẫn về thời điểm trồng hàng rào cây găng nhưng các đương sự đều không có yêu cầu giám định tuổi cây, tuy vậy lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với lời khai của bà Hà Thị T1 về việc xác định ranh giới theo hàng rào cây Găng, cây T2 và thời gian trồng có trước khi hai gia đình được cấp GCNQSDĐ vào các năm 2013-2014.
Ông Ngô Văn L2 cho rằng sau khi nhận chuyển nhượng đất thì thấy nguyên đơn tự ý trồng hàng rào cây Găng, lấn chiếm ranh giới; tuy nhiên ngoài lời tự trình bày, bị đơn không xuất trình được chứng cứ chứng minh và không yêu cầu đề nghị trưng cầu giám định tuổi cây nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét, hơn nữa điều này cũng mâu thuẫn với lời trình bày của bà Hà Thị T1 và hiện trạng kết quả xem xét thẩm định tại chỗ.
Từ đó thấy có đủ cơ sở khẳng định nguồn gốc, quá trình quản lý và thực hiện quyền sử dụng đất, tài sản trên đất của nguyên đơn đảm bảo các căn cứ thực tế sử dụng ổn định, lâu dài, thực hiện đúng quyền của người sử dụng đất theo quy định tại Điều 166 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 26 Luật Đất đai năm 2024. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được quyền quản lý, sử dụng đối với diện tích 136 m² thuộc thửa 41 là có căn cứ.
- [2.6] Về căn cứ pháp lý: Theo thông tin của UBND huyện H, UBND xã Y cung cấp, năm 2010-2011 xã Y được đo đạc bản đồ theo dự án 46 xã của tỉnh Lạng Sơn, không thực hiện ký giáp ranh đối với các thửa đất nông nghiệp (chỉ ký giáp ranh đất ở). Ngày 01/11/2013, gia đình ông Nguyễn Văn L đã được UBND huyện H cấp GCNQSDĐ số BL 495593 đối với thửa đất số 65, tờ bản đồ số 80, diện tích 6.630 m² và GCNQSDĐ số BL 495592 đối với thửa đất 66, diện tích 1.484 m². Ngày 20/02/2014, bà Hà Thị T1 được UBND huyện H cấp đổi (do chồng chết, bà T1 được hưởng thừa kế) GCNQSDĐ số BL 498896 mang tên Hà Thị T1 đối với thửa đất số 41.
- [2.7] Nhận thấy, việc cấp các GCNQSDĐ theo đúng bản đồ địa chính, tuy nhiên được thực hiện cấp đồng loạt theo diện tự kê khai, không thực hiện ký giáp ranh đối với đất nông nghiệp nên dẫn đến việc cấp GCNQSDĐ không đúng ranh giới trên thực địa (ranh giới đã có trước khi đo vẽ bản đồ địa chính, trước khi hai bên được cấp GCNQSDĐ). Hộ ông Nguyễn Văn L được cấp GCNQSDĐ đối với các thửa đất số 65, 66 chưa đến hàng rào Găng nhưng lại chính là người trồng ranh giới đó, sử dụng ổn định từ năm 1993; hơn nữa, phía bị đơn cũng thừa nhận, hiện trạng trên đất tranh chấp nguyên đơn là người trực tiếp quản lý, sử dụng toàn bộ số cây cối trên đất từ trước khi ông được nhận chuyển nhượng.
- [2.8] Năm 2014 bà Hà Thị T1 được cấp GCNQSDĐ vượt qua hàng rào Tre, nhưng không biết và thực tế bà không quản lý sử dụng phần diện tích đất này; khi chuyển nhượng thửa đất số 41, bà đã chỉ ranh giới phần đất tiếp giáp hàng cây Tre, G cho ông L2 (có ông Hoàng Văn C trưởng thôn Q, anh Ngô Văn H1 là cháu ông L2 chứng kiến). Ông L2 chỉ là người nhận chuyển nhượng theo GCNQSDĐ bà T1 được cấp nên cả hai bên vẫn sử dụng bình thường từ năm 2014 đến năm 2023, khi ông L2 nhờ người đến đo đạc và kiểm tra GCNQSDĐ đã được cấp thì mới phát hiện đất của mình được cấp GCNQSDĐ nằm ngoài ranh giới hàng rào Tre, Găng nên mới phát sinh tranh chấp.
Ngoài ra, sau khi ông Ngô Văn L2 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 41 từ năm 2020 và được cấp GCNQSDĐ mới (sang tên) thì sử dụng trồng vườn cây Keo nằm phía bên trong hàng rào, thậm chí ông còn thuê máy xúc để phá các bụi tre do tự mọc cho vườn rộng nhưng ông vẫn tôn trọng hàng rào cây găng và hiện còn sót lại một số gốc tre theo đúng ranh giới do gia đình nguyên đơn xác định.
Như vậy, việc cấp GCNQSDĐ của UBND huyện H, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L không đúng theo ranh giới hiện trạng có từ trước của hai bên thừa nhận là có thiếu sót của các cơ quan chức năng nhưng thuộc về yếu tố khách quan do lịch sử để lại; thứ nhất do GCNQSDĐ của các đương sự được cấp đồng loạt theo diện tự kê khai, không ký giáp ranh đối với đất nông nghiệp; thứ hai do trình độ kỹ thuật, máy móc đo đạc không đảm bảo chính xác nhất là đối với các loại đất nông nghiệp có diện tích lớn; tuy vậy cả hai bên gia đình không có khiếu nại và họ cũng không thể biết được việc bị cấp trùng. Do vậy, có cơ sở để xác định việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp GCNQSDĐ số DG 675797 ngày 29/12/2022 (trước đó UBND huyện H cấp GCNQSDĐ số BL 498896 ngày 20/02/2014 mang tên bà Hà Thị T1 - chủ cũ thửa đất) đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ số 80 diện tích 2.933 m² cho ông Ngô Văn L2 có phần đất 136 m² không đúng đối tượng, không đúng với diện tích đất thực tế, không phù hợp với quá trình quản lý, sử dụng, ranh giới và hiện trạng quyền sở hữu tài sản trên đất nên cần huỷ một phần GCNQSDĐ đối với diện tích đang có tranh chấp.
- [2.9] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Văn L2 như đề nghị của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội.
- Về án phí, do không được chấp nhận kháng cáo, ông Ngô Văn L2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bác kháng cáo của ông Ngô Văn L2; giữ nguyên quyết định tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, ông Ngô Văn L2 phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0006148 ngày 03/4/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.
- Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Đình Khánh |
|
CÁC THẨM PHÁN |
|
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Thái Duy Nhiệm |
Bùi Xuân Trọng |
Phạm Đình Khánh |
Bản án số 219/2025/DS-PT ngày 31/10/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp qsdđ, di dời tài sản trên đất và yêu cầu xác lập quyền sở hữu tài sản trên đất
- Số bản án: 219/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSDĐ, di dời tài sản trên đất và yêu cầu xác lập quyền sở hữu tài sản trên đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ, di dời tài sản trên đất
