Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 219/2024/DS-PT

Ngày 03-12-2024

V/v tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Đắc Đương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến

Ông Nguyễn Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 244/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 151/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 201/2024/QĐPT-DS ngày 18 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Thạch Ngọc L, sinh năm 1971 (có mặt).
  2. Bà Thạch Thị D, sinh năm 1977; cùng địa chỉ ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Thạch Thị D: bà Thạch Thị H, sinh năm 1951; địa chỉ ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 14/11/2022)(có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Thạch Ngọc L: Ông Lê Nhựt H1 là Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Ông Thạch M, sinh năm 1953 (chết ngày 11 tháng 12 năm 2023).
  2. Bà Tô Thị R, sinh năm 1953; địa chỉ ấp C, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Thạch M và bà Tô Thị R: Ông Đặng Văn C là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch M.

  1. Bà Tô Thị R, sinh năm 1953 (có mặt).
  2. Bà Thạch Thị Ma R1, sinh năm 1976 (vắng mặt).
  3. Ông Thạch Tha R2 (Thạch Thia R3), sinh năm 1979 (có mặt).
  4. Ông Thạch Oanh T, sinh năm 1980 (có mặt).
  5. Ông Thạch Oanh T1, sinh năm 1989 (có mặt).

Cùng địa chỉ ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  1. Bà Thạch Thị Thia N, sinh năm 1974; địa chỉ ấp G, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
  2. Ông Thạch Oanh T2, sinh năm 1984; địa chỉ ấp C, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Thạch Sâm N1, sinh năm 1959; địa chỉ ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

- Người phiên dịch: Ông Thạch V; Công tác tại Trường trung học cơ sở P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người kháng cáo: Bà Tô Thị R là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 5 năm 2022 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 08 tháng 7 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện ông Thạch Ngọc L trình bày: Vào ngày 27 tháng 5 năm 1999 ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D (vợ của ông L) nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Thạch M và bà Tô Thị R 04 công đất ruộng (04 công tầm cấy) tương đương 4.215m², nằm trong tổng diện tích 7.840m², thuộc một phần thửa số 1327, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp G, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh với giá 02 cây vàng 24k, loại vàng 10, khi chuyển nhượng đôi bên viết giấy tay có nhiều người làm chứng. Sau khi ký giấy chuyển nhượng đất, vợ chồng ông đã giao đủ 02 cây vàng 24k, loại vàng 10 cho vợ chồng ông Thạch M và bà Tô Thị R. Ông Thạch M và bà Tô Thị R cũng giao đủ 04 công đất ruộng (04 công tầm cấy) cho vợ chồng ông canh tác từ năm 1999 đến nay nhưng không chịu tách thửa sang tên cho vợ chồng ông.

Nay ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D yêu cầu ông Thạch M, bà Tô Thị R cùng các thành viên hộ gia đình tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 5 năm 1999 tách thửa sang tên cho ông (04 công đất ruộng tầm cấy) tương đương 4.215m², loại đất LUC tọa lạc tại ấp G, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Bà Thạch Thị H người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Thạch Thị D trình bày: Bà hoàn toàn thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông Thạch Ngọc L, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Thạch M và bà Tô Thị R trình bày: ông Thạch M và bà Tô Thị R không thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D vì 04 công đất ruộng nằm trong tổng diện tích 7.840m², thuộc một phần thửa số 1327, tờ bản đồ số 10, là đất do ông bà cầm cố cho ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D số tiền 10.000.000 đồng không nhớ ngày tháng năm, lúc cầm cố đất chỉ có mặt vợ chồng ông bà và vợ chồng ông Thạch Ngọc L không có ai chứng kiến cũng không có làm giấy tờ cầm cố đất, ông Thạch Ngọc L là người đưa tiền cho vợ chồng ông và thỏa thuận khi nào có tiền sẽ chuộc lại, còn không có tiền thì ông Thạch Ngọc L cứ canh tác. Nay ông Thạch M và bà Tô Thị R yêu cầu xin chuộc lại 04 công đất ruộng đã cầm cố bằng 10.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch M gồm có bà Thạch Thị Thia N, bà Thạch Thị Ma R1, ông Thạch Oanh T, ông Thạch Tha R2 trình bày: các ông hoàn toàn thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của ông Thạch M và bà Tô Thị R. Riêng các ông Thạch Oanh T2, ông Thạch Oanh T1 đi làm thuê không có mặt tại địa phương nên không tiến hành lấy lời khai được.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D. Không chấp nhận yêu cầu của bà Tô Thị R, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và là người thừa kế quyền nghĩa vụ của ông Thạch M.

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 5 năm 1999 giữa ông Thạch M và bà Tô Thị R với ông Thạch Ngọc L, bà Thạch Thị D. Buộc bà Tô Thị R và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và là người thừa kế quyền nghĩa vụ của ông Thạch M phải có trách nhiệm tách thửa sang tên cho ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D 4.207m² đất trồng lúa nằm trong tổng diện tích 7.840m², thuộc một phần thửa đất số 1327, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp G, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có sơ đồ vị trí đất kèm theo).

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí giám định, định giá tài sản, về án phí, quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận, tự nguyện thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024 bị đơn bà Tô Thị R kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thạch Ngọc L, yêu cầu ông Thạch Ngọc L giao trả phần diện tích 4.000m² nằm trong tổng diện tích 7.840m² thuộc thửa đất 1327, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại ấp G, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho bà sử dụng, canh tác vì ông Thạch Ngọc L chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 5 năm 1999.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Tô Thị R phát biểu quan điểm như sau: Bị đơn bà Tô Thị R trình bày phần diện tích 4.000m2 nằm trong tổng diện tích 7.840m² thuộc thửa đất 1327, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại ấp G, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh là đất do bà cầm cố cho ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D số tiền là 10.000.000 đồng và bà chỉ có nhận tiền nhưng không có nhận vàng của ông Thạch Ngọc L. Qua kết quả giám định đã xác định không đủ cơ sở kết luận điểm chỉ vân tay của đương sự, án sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của người làm chứng ông Thạch Sâm N1 là chưa đủ cơ sở, vì chỉ nêu là 4 công đất nhưng không nói rõ là thửa đất nào, nguyên đơn trình bày là chuyển nhượng đất nhưng không thực hiện đúng về thủ tục theo quy định của pháp luật nên lời trình bày của nguyên đơn là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Thạch Ngọc L trình bày quan điểm như sau: ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D có nhận chuyển nhượng đất của ông Thạch M và bà Tô Thị R vào ngày 27 tháng 5 năm 1999 hai bên có làm giấy tay chuyển nhượng và được ông Thạch Sâm N1 xác nhận việc chuyển nhượng này, ông Thạch M thừa nhận có nhận tiền của ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D, sau khi nhận chuyển nhượng thì ông Thạch Ngọc L canh tác từ năm 1999 cho đến nay. Bà Tô Thị R và ông Thạch M khai rằng phần đất này cầm cố cho ông Thạch Ngọc L nhưng không có căn cứ để chứng minh, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024 bị đơn bà Tô Thị R kháng cáo, việc kháng cáo của các đương sự còn trong hạn luật định cần được chấp nhận.

Về nội dung vụ kiện: Giấy sang nhượng đất ruộng thể hiện ngày 27 tháng 5 năm 1999 vợ chồng ông Thạch M và bà Tô Thị R đồng lòng sang nhượng 04 (bốn) công đất ruộng cho vợ chồng bà Thạch Thị D và ông Thạch Ngọc L bằng 02 cây vàng, loại vàng 10T. Giấy sang nhượng có đầy đủ chữ ký, điểm chỉ lăn tay của các bên, ngoài ra còn có sự chứng kiến của nhiều người, trong đó có hai người con của bị đơn là bà Thạch Thị Ma R1 và ông Thạch Phia R4 và người lập biên bản là ông Thạch Sâm N1. Theo lời khai và xác nhận của người làm chứng ông Thạch Sâm N1 cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ông Thạch Sâm N1 khẳng định Giấy sang nhượng đất ruộng là chính bản thân ông viết, do các bên không biết chữ nên nhờ viết và chứng kiến; ông Thạch Sâm N1 trình bày các bị đơn sang nhượng 04 công đất ruộng với giá 02 cây vàng 24 Kara, nhưng do bà Tô Thị R và ông Thạch M còn thiếu nợ ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D nên các bên đồng ý cấn trừ, còn lại ông L giao đủ cho bà R. Bản thân, ông Thạch Sâm N1 không có làm ăn chung, không có xảy ra mâu thuẫn gì với nguyên đơn, bị đơn, do đó việc làm chứng của ông Thạch Sâm N1 là hoàn toàn khách quan. Nguyên đơn ông Thạch Ngọc L đã canh tác phần đất này từ năm 1999 cho đến nay không có tranh chấp, bị đơn trình bày là cầm cố nhưng không có chứng cứ để chứng minh.

Mặc dù hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn là vi phạm về hình thức, chưa tuân thủ theo quy định của pháp luật, tuy nhiên, việc chuyển nhượng trên đã hoàn thành, người nhận chuyển nhượng đất đã giao đủ vàng cho bên chuyển nhượng và đã nhận đất sử dụng liên tục nhiều năm. Do đó trong trường hợp này cần áp dụng tiết b.3 điểm b, tiểu mục 2.3, mục 2 Phần II của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Án lệ số 55/2022/AL và khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự để công nhận hợp đồng chuyển nhượng đối với diện tích đất thực đo 4.207m² cho các nguyên đơn. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Tô Thị R, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án sơ thẩm số 103/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn bà Tô Thị R kháng cáo, việc kháng cáo của bị đơn còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét về nội dung yêu cầu kháng cáo: bà Tô Thị R kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm số 103/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D, buộc ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D phải trả cho bà Tô Thị R phần diện tích đất 4.000m² nằm trong tổng diện tích 7.840m² thuộc thửa 1327, tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp G, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh để bà sử dụng, canh tác.

Xét thấy ngày 27 tháng 5 năm 1999 ông Thạch M, bà Tô Thị R và các con là Thạch Thị Ma R1, Thạch Tha R2 (Thạch Phia R4) có thỏa thuận chuyển nhượng cho vợ chồng ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D 04 công đất ruộng (tầm cấy) tương đương diện tích 4.215m², nằm trong tổng diện tích 7.840m², thuộc một phần thửa đất số 1327, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp G, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh với giá 20 chỉ vàng 24k, loại vàng 10, đôi bên có viết giấy tay sang nhượng đất ruộng ngày 27 tháng 5 năm 1999. Sau khi nhận chuyển nhượng đất ông Thạch Ngọc L, bà Thạch Thị D trả đủ cho ông Thạch M, bà Tô Thị R 20 chỉ vàng, bà Tô Thị R là người đo đất cấm mốc giao đất cho vợ chồng ông Thạch Ngọc L 04 công đất ruộng tầm cấy. Sau khi nhận 04 công đất ruộng, ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D canh tác từ năm 1999 đến nay không ai ngăn cản hay tranh chấp gì. Mặc dù hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn không tuân thủ quy định về hình thức, tuy nhiên việc chuyển nhượng trên đã hoàn thành, người nhận chuyển nhượng đất đã giao đủ vàng cho bên chuyển nhượng và đã nhận đất sử dụng liên tục từ khi chuyển nhượng cho đến nay. Do đó căn cứ vào Án lệ số 55/2022/AL và khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự để công nhận hợp đồng chuyển nhượng đối với diện tích đất thực đo 4.207m² cho các nguyên đơn. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3] Ông Thạch M, bà Tô Thị R và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch M trình bày ông bà không có chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D mà chỉ cầm cố đất cho vợ chồng ông Thạch Ngọc L 04 công đất ruộng nằm trong tổng diện tích 7.840m², thuộc một phần thửa đất số 1327, tờ bản đồ số 10, loại đất trồng lúa tọa lạc tại ấp G, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh với giá 10.000.000 đồng nhưng ông Thạch M, bà Tô Thị R và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch M không có chứng cứ chứng minh việc cầm cố đất cho vợ chồng ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D.

[4] Ông Thạch Sâm N1 là người viết hộ giấy tay sang nhượng đất ruộng ngày 27 tháng 5 năm 1999 và là người chứng kiến việc chuyển nhượng 04 công đất ruộng giữa ông Thạch M, bà Tô Thị R với chồng ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D với giá là 02 cây vàng 24k, loại vàng 10. Ông Thạch Sâm N1 khẳng định khi viết xong giấy sang nhượng đất, vợ chồng ông Thạch Ngọc L có cấn trừ một phần nợ với ông Thạch M, bà Tô Thị R quy ra vàng, số vàng còn lại ông Thạch Ngọc L giao thêm cho đủ 02 cây vàng, người nhận số vàng còn lại là bà Tô Thị R. Ông Thạch Sâm N1 là người sinh sống tại địa phương không có mâu thuẫn gì với ông Thạch M, bà Tô Thị R, ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D nên lời khai ông Thạch Sâm N1 là khách quan.

Từ những nhận định và phân tích trên, xét thấy không có cơ sở để thỏa mãn yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Tô Thị R, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là phù hợp với các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ kiện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Chấp nhận đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, không chấp nhận đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Tô Thị R. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Tô Thị R không được chấp nhận nên bà R phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng do bà Tô Thị R là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên bà Tô Thị R được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 129, Điều 500, Điều 501 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Tô Thị R. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D với bị đơn ông Thạch M và bà Tô Thị R.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D. Không chấp nhận yêu cầu của bà Tô Thị R, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch M.

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 5 năm 1999 giữa ông Thạch M và bà Tô Thị R với ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D diện tích đất 04 công (tầm cấy) (diện tích thực đo là 4.207m²) nằm trong tổng diện tích 7.840m², thuộc thửa 1327, tờ bản đồ số 10, loại đất trồng lúa tọa lạc tại ấp G, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Phần đất có vị trí, tứ cận sau:

  • Phía Đông giáp thửa 1327 và thửa 1318 có kích thước 43,99m, 9,24m;
  • Phía Tây giáp thửa 1325 và thửa 1326 có kích thước 25,45m, 27,70m;
  • Phía Nam giáp thửa 1332 và thửa 1331 có kích thước 32,14m, 5,55m, 17,04m, 23,81m;
  • Phía Bắc giáp thửa 1319 có kích thước 57,89m, 20,23m (có sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 632/CNHCT ngày 14 tháng 6 năm 2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh).

Ông Thạch Ngọc L và bà Thạch Thị D có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và thực hiện nghĩa vụ về tài chính để làm thủ tục xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích và tứ cận theo quyết định của bản án. Bà Tô Thị R và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch M có trách nhiệm giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1327, tờ bản đồ số 10, loại đất trồng lúa tọa lạc tại ấp G, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Tô Thị R.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Đắc Đương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 219/2024/DS-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 219/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger