|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 219/2024/DS-ST Ngày 30-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Tài
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Hà Văn Châu
- Ông Đào Khel
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 299/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 527/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ
Địa chỉ trụ sở chính: Số A, đường P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hà Thanh N, trú tại: Số B, Quốc Lộ A, phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản ủy quyền ngày 31/7/2024 - có mặt).
- Bị đơn: Bà Thạch Thị L (vắng mặt).
Địa chỉ: Số F, đường L, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Hà Thanh N trình bày:
Vào ngày 10/11/2016 Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh S và bà Thạch Thị L đã ký hợp đồng tín dụng với tên gọi Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ với nội dung thỏa thuận như sau: Số tiền vay: 10.000.000 đồng. Lãi suất trong hạn là 15,6%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng (10/11/2016 đến ngày 10/11/2017). Mục đích vay: Buôn bán. Hình thức vay: Vay góp, số tiền góp 01 kỳ là 964.000 đồng, lãi tính theo dư nợ ban đầu. Biện pháp đảm bảo: Tín chấp.
Trong quá trình vay, từ ngày 10/11/2016 đến ngày 30/8/2022, bà Thạch Thị L chỉ trả được tổng số tiền như sau: Vốn là 9.112.771 đồng, lãi là 1.480.000 đồng.
Tính đến ngày 30/9/2024, bà L còn nợ các khoản tiền sau: Vốn: 887.229 đồng; Lãi trong hạn: 80.000 đồng; Lãi quá hạn: 1.991.771 đồng. Tổng cộng vốn và lãi: 2.959.000 đồng.
Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Thạch Thị L trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 30/9/2024 gồm: Vốn: 887.229 đồng; Lãi trong hạn: 80.000 đồng; Lãi quá hạn: 1.991.771 đồng. Tổng cộng vốn và lãi: 2.959.000 đồng và tiền lãi tính trên số tiền vốn phát sinh từ ngày 01/10/2024 đến ngày bà Thạch Thị L trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ theo lãi suất quá hạn.
Trong quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn bà Thạch Thị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia phiên Tòa, nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng, thời hạn giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn bà Thạch Thị L chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
2
- Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của bị đơn bà Thạch Thị L đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên toà, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về tính hợp pháp của Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 27/10/2016. Ngân hàng TMCP Đ uỷ quyền cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh S ký kết hợp đồng tín dụng với tên gọi Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ với bà Thạch Thị L. Các bên đều có đủ tư cách chủ thể, có đủ năng lực hành vi dân sự nên chủ thể tham gia ký kết hợp đồng là hợp pháp. Hợp đồng được lập thành văn bản các bên đều tự nguyện ký tên, đóng dấu xác nhận nên hình thức hợp đồng là hợp pháp. Các đương sự thoả thuận về toàn bộ các điều khoản trong nội dung hợp đồng, tự nguyện ký kết, không bị lừa dối, ép buộc nên nội dung hợp đồng là hợp pháp.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền tổng cộng là 2.959.000 đồng (trong đó: Vốn: 887.229 đồng; Lãi trong hạn: 80.000 đồng; Lãi quá hạn: 1.991.771 đồng). Thấy rằng, theo Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 27/10/2016 các bên đã thỏa thuận bà L vay của Ngân hàng số tiền 10.000.000 đồng. Lãi suất trong hạn là 15,6%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng (10/11/2016 đến ngày 10/11/2017). Mục đích vay: Buôn bán. Hình thức vay: Vay góp, số tiền góp 01 kỳ là 964.000 đồng, lãi tính theo dư nợ ban đầu.
Đồng thời, các bên thỏa thuận phương thức trả nợ gốc vào cuối ngày và lãi trả vào cuối tháng. Tuy nhiên, bà L đã không trả vốn và lãi theo thỏa thuận, đến nay hợp đồng đã hết hạn nhưng bà L vẫn không thanh toán tất nợ cho Ngân hàng.
Đối với bị đơn bà Thạch Thị L, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có ý kiến cũng như không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để bác bỏ chứng cứ của nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ của nguyên đơn cung cấp để xác định bị đơn bà L có vay và nợ nguyên đơn số tiền tổng cộng là 2.959.000 đồng.
3
Do, bà L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận trong hợp đồng đã ký nên Ngân hàng yêu cầu bà L trả lại toàn bộ số tiền vay và tiền lãi còn nợ là có cơ sở chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 đến khi bà L trả hết nợ theo mức lãi suất quá hạn thoả thuận trong Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 27/10/2016. Xét yêu cầu này là phù hợp với thoả thuận trong hợp đồng mà các bên đã ký kết cũng như theo quy định tại Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Thạch Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ: Điều 465, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ: Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Buộc bị đơn bà Thạch Thị L trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền còn nợ tổng cộng là 2.959.000 đồng (trong đó: Vốn: 887.229 đồng; Lãi trong hạn: 80.000 đồng; Lãi quá hạn: 1.991.771 đồng).
Kể từ ngày 01/10/2024 bị đơn bà Thạch Thị L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất quá hạn mà các bên thỏa thuận trong Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 27/10/2016 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp
4
đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Thạch Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.
- Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001860 ngày 21/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Phước Tài |
5
6
7
Bản án số 219/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 219/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TC HĐ tín dụng
