|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số:219/2024/HS-ST Ngày 28 tháng 10 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tư.
- Bà Hoàng Thị Hồng.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Hoàng Tùng – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 10 năm 2024, trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 194/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:201/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Trần Công Đ, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Số nhà A, đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 9/12; Con ông Trần Đức T, sinh năm 1931 (Đã chết) và bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1938 (Đã chết); Gia đình có 6 anh em, bị cáo là thứ 3; Vợ, con: Không.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 78 ngày 17/6/1995 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Bắc xử phạt 04 năm tù về tội “Vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải” và “Trốn khỏi nơi giam”; đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 128 ngày 21/6/2000 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 04 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản của công dân”; đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 136 ngày 14/9/2006 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.
- + Ngày 13/10/2020 bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
- Họ và tên: Vương Văn M, sinh năm 1997; Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai; Chỗ ở: Tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 9/12; Con ông Vương Văn N, sinh năm 1972 và bà Lò Thị T2, sinh năm 1977; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là thứ 2; Vợ, con: Không.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Vương Văn T3, sinh năm 1995
- Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).
* Người chứng kiến:
- - Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1962
- Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
- - Ông Lưu Hồng N1, sinh năm 1958
- Địa chỉ: Số E, ngõ F, tổ D, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
(Những người chứng kiến đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 18/6/2024, Trần Công Đ, sinh năm 1968, trú tại số nhà A, đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đi bộ đến bờ đê T, phường L, thành phố B mục đích mua ma túy vừa để sử dụng và bán lại cho người khác để thu lợi. Theo Đ khai mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy heroin với giá 2.000.000 đồng ma túy heroin. Đ cho số ma tuý đã mua vào 01 lọ nhựa hình trụ, màu trắng rồi cất giấu tại nền đất ở sườn đê dưới đống gỗ đối diện cửa nhà Đ. Kết quả điều tra xác định Đ đã bán ma tuý trong những lần sau đây:
Lần thứ nhất: Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Vương Văn M, sinh năm 1997, trú tại thôn A, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai (hiện ở tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang) đi xe mô tô không gắn biển số đến nhà Trần Công Đ mục đích mua ma túy heroin để sử dụng. Lúc này, Đ đang ngồi ở ghế gỗ trước cửa nhà. M dừng xe và hỏi mua 500.000 đồng ma túy heroine. Đ đồng ý bán và bảo M để tiền lại, lát sau quay lại lấy ma tuý. M lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng thả xuống nền đường ở vị trí dừng xe rồi lái xe đi về phía trước một đoạn đứng chờ. Đ nhặt tờ tiền đút vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi đến lấy chiếc lọ nhựa đựng ma túy cất giấu tại sườn đê đối diện cửa nhà. Đ cầm lọ ma tuý quay lại ngồi tại ghế gỗ trước cửa nhà và dùng móng tay lấy một phần ma túy cho vào 01 túi nilon màu trắng. Đ cất lọ ma túy vào trong túi quần đang mặc và cầm túi nilon đựng ma tuý vừa chia được ở tay phải. Khoảng 03 phút sau, M điều khiển xe quay lại, dừng xe và đi đến vị trí Đ đang ngồi thì được Đ đưa cho 01 túi nilon đựng ma túy heroin. M cầm túi ma túy rồi điều khiển xe rời đi.
Hồi 0 giờ 10 phút ngày 19/6/2024, M điều khiển xe đi đến bãi đất trống khu đô thị P, phường M, thành phố B nhưng chưa kịp sử dụng ma tuý thì bị tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố B phối hợp với Công an phường M kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ số vật chứng, tài sản gồm:
- - 01 túi nilon màu trắng, bên trong đựng chất cục bột màu trắng - nghi là ma tuý, do M lấy từ trong quần lót đang mặc tự giác giao nộp, được niêm phong trong phòng bì ký hiệu “QT”;
- - 01 xilanh, 01 lọ nước cất chưa qua sử dụng;
- - 01 điện thoại di động Oppo, màu đen gắn sim số 0923.324.247;
- - 01 xe mô tô Honda Dream, không gắn biển số.
Phiếu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 19/6/2024 của Công an thành phố B đối với Vương Văn M có kết quả dương tính với ma túy Heroine.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi ma túy thu giữ của Vương Văn M khi bắt quả tang.
Kết luận giám định số 1375/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu “QT”, được niêm phong, gửi giám định:
Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, được hàn kín hai đầu là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,490 gam.
Lần thứ hai: Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, Vương Văn T3, sinh năm 1995, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (hiện ở tại tổ dân phố N, phường N, thị xã V) đi xe mô tô đến nhà Trần Công Đ mục đích mua ma túy để sử dụng. Lúc này, Đ đang ngồi ở ghế gỗ trước cửa nhà. Thích đỗ xe ở ven đường rồi đi đến vị trí Đ đang ngồi hỏi mua 500.000 đồng ma túy heroine thì Đ đồng ý bán. Thích lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc ra đưa cho Đ 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Đ cất tờ tiền vào túi quần bên trái đang mặc rồi lấy lọ ma tuý từ trong túi quần ra, dùng móng tay lấy một phần ma túy cho vào 01 túi nilon màu trắng rồi thả túi ma tuý xuống vị trí đống gạch cạnh ghế. Thích nhặt túi ma tuý rồi điều khiển xe đi đến khu vực gầm cầu X, xã Đ, thành phố B sử dụng hết số ma tuý đã mua. Đ cầm chiếc lọ nhựa đựng số ma tuý còn lại đi đến sườn đê đối diện cửa nhà rồi cất giấu dưới lớp sỏi đá và cất 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng vào trong ví da.
Căn cứ kết quả điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Công Đ tại số nhà A, đường Đ, phường T, thành phố B đã thu giữ:
- - 01 hộp nhựa hình trụ màu trắng có nắp đậy, mở ra kiểm tra bên trong đựng 01 túi nilon được quấn ngoài bằng dây chun nịt màu vàng, bên trong đựng chất cục bột màu trắng - nghi là ma tuý, phát hiện thu giữ tại nền đất sườn đê được vùi lại dưới đống gỗ đối diện nhà của Trần Công Đ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX”;
- - 01 hộp kim loại hình chữ nhật màu đỏ có nắp đậy, mở ra bên trong có 02 mảnh giấy màu trắng, 02 bật lửa ga, 02 dao lam, thu giữ trên mặt phản gỗ trong phòng ngủ của Đ;
- - 01 ví da màu đen bên trong đựng số tiền 1.650.000 đồng gồm: 03 tờ tiền 500.000 đồng, 01 tờ tiền 100.000 đồng và 01 tờ tiền 50.000 đồng;
- - 01 túi nilon màu đen mở ra bên trong có 01 hộp giấy hình chữ nhật, bên trong đựng 01 cân điện tử màu đen, thu giữ dưới nền đất sườn đê dưới đống gỗ trước cửa nhà Đ;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05S, màu đen, lắp sim số 0346.182.237.
Trong quá trình Cơ quan điều tra khám xét, Vương Văn T3 đi bộ đến khu vực trên để mua ma tuý thì bị tổ công tác đưa về trụ sở làm việc. Thích thừa nhận mua ma tuý của Đ vào đêm ngày 18/6/2024 và đã sử dụng hết.
Cùng ngày, Trần Công Đ đầu thú và khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy như nêu trên.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi ma túy thu giữ của Trần Công Đ khi khám xét.
Kết luận giám định số 1375/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu “KX”, được niêm phong, gửi giám định:
Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng được hàn kín hai đầu, bên ngoài quấn dây chun nịt màu vàng là ma túy, loại Heroine, khối lượng 3,279 gam.
Cơ quan điều tra đã thu giữ, trưng cầu giám định 03 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh Công an thành phố B tại khu vực phía trước số nhà A, đường B, phường T, thành phố B.
Kết luận giám định số 1918/KL-KTHS ngày 05/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- “1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03 (ba) file video gửi giám định.
- 2. Trích xuất được 14 (mười bốn) hình ảnh thể hiện diễn biến của vụ việc có trong các file video gửi giám định”.
Cơ quan điều tra cho Trần Công Đ, Vương Văn M, Vương Văn T3 quan sát 03 đoạn video trên. Kết quả Đ xác định có hình ảnh Đ mặc áo trắng, quần tối màu bán ma tuý cho người đàn ông mặc áo màu xanh đi xe máy và người đàn ông mặc áo màu đen đi xe máy; M xác định có hình ảnh M mặc áo màu xanh đi xe máy đến mua ma tuý; Thích xác định có hình ảnh Thích mặc áo màu đen đi xe máy đến mua ma tuý.
Cơ quan điều tra cho Trần Công Đ, Vương Văn M, Vương Văn T3 quan sát hình ảnh túi nilon màu trắng đựng ma tuý đã thu giữ của mạnh khi bắt quả tang. Kết quả M xác định là túi ma tuý heroin của M bị thu giữ; Đ xác định là túi ma tuý heroin mà Đ đã bán cho nam thanh niên vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 18/6/2024 với giá 500.000 đồng; Thích xác định túi nilon trên có đặc điểm giống với túi ma tuý heroin mà T3 đã mua của Đ vào đêm ngày 18/6/2024 với giá 500.000 đồng.
Cơ quan điều tra cho Vương Văn M, Vương Văn T3 nhận dạng Trần Công Đ và cho Đ nhận dạng ảnh M và T3. Kết quả M và T3 đều nhận đúng Đ là người đã bán ma tuý vào đêm ngày 18/6/2024; Đ nhận đúng ảnh và xác định đã bán cho M và T3 mỗi người 500.000 đồng ma tuý heroin ngày 18/6/2024.
Ngày 19/6/2024, Cơ quan điều tra cho Trần Công Đ, Vương Văn M, Vương Văn T3 thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả M thực hiện động tác đi xe máy đến trước cửa nhà Đ hỏi mua ma tuý; dùng tay phải lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng thả xuống nền đường rồi lái xe đi. Đ thực hiện động tác đi đến nhặt lấy tờ tiền đút vào trong túi quần bên phải đang mặc, đi đến sườn đê đối diện cửa nhà, lấy lọ nhựa đựng ma tuý giấu trong lớp sỏi rồi cầm vào ghế ngồi trước cửa nhà; dùng móng tay lấy một phần ma tuý trong lọ nhựa rồi cho ma tuý vào một túi nilon. M lái xe quay lại, đi bộ đến cửa nhà Đ, nhận túi ma tuý rồi lái xe đi. Thích thực hiện động tác đi xe máy đến trước cửa nhà Đ, dừng xe đi bộ đến gặp Đ tại cửa nhà hỏi mua ma tuý; dùng tay trái lấy từ trong túi quần bên trái tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng đưa cho Đ. Đ cất tờ tiền vào trong túi quần bên trái đang mặc; lấy lọ ma tuý từ trong túi quần, dùng móng tay phải tách một phần ma tuý rồi cho vào một túi nilon; thả túi ma tuý vừa chia được xuống vị trí đống gạch gần vị trí ngồi. Thích nhặt lấy túi ma tuý rồi lái xe đi. Đ cầm lọ ma tuý đi đến sườn đê đối diện cửa nhà, cất giấu dưới lớp sỏi.
Đối với người đàn ông mà Trần Công Đ khai đã bán ma túy cho Đ bờ đê T, phường L, thành phố B nhưng Đ không biết tên và địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không xác định được.
Đối với Vương Văn T3, Trần Công Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Phiếu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 19/6/2024 đối với Đ và T3 dương tính với ma túy Heroine nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Chiếc xe mô tô thu giữ của Vương Văn M. Theo M khai mua chiếc xe trên của người không quen biết tại thị xã V, tỉnh Bắc Giang vào năm 2020 và đã làm mất biển số. Kết quả tra cứu là xe có biển kiểm soát 60N1-9200, đứng tên đăng ký là ông Phạm Văn T4, sinh năm 1975, trú tại ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; hiện ông T4 vắng mặt tại địa phương nên không lấy được lời khai. Chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.
Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng các phong bì đựng chất ma túy hoàn lại sau giám định và những đồ vật, tài sản thu giữ để xử lý theo quy định.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi như nêu trên.
Tại Cáo trạng số 197/CT-VKS ngày 27/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Trần Công Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Vương Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Hội đồng xét xử công bố lời trình bày có trong hồ sơ vụ án của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt, các bị cáo đều không có ý kiến gì về những lời khai này.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh và hình phạt:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vương Văn M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Công Đ từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024. Phạt bổ sung bị cáo Trần Công Đ từ 5.000.000 đồng 10.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT” đựng 0,417gam ma tuý Heroin và 01 phong bì niêm phong ký hiệu “KX” đựng 3,193gam ma tuý Heroin hoàn lại sau giám định.
- - 01 túi niêm phong ký hiệu “Vỏ bao gói hoàn lại của QT”, bên trong có 01 túi nilon màu trắng.
- - 01 túi niêm phong ký hiệu “Vỏ bao gói hoàn lại của KX”, bên trong có 01 vỏ hộp nhựa hình trụ có nắp đậy (dạng nắp vặn) màu trắng, 01 túi nilon màu trắng và 01 dây chun nịt màu vàng.
- - 01 xilanh, 01 lọ nước cất chưa qua sử dụng.
- - 01 hộp kim loại hình chữ nhật màu đỏ, có nắp đậy, bên trong có 02 mảnh giấy màu trắng, 02 bật lửa ga, 02 dao lam.
- - 01 túi nilon màu đen, bên trong có 01 hộp giấy hình chữ nhật đựng 01 cân điện tử màu đen.
- - 01 ví da màu đen.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Trần Công Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vương Văn M.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 292, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
2.1. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng, gồm:
2.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 1.000.000 đồng (Trong số tiền 1.650.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Công Đ).
2.3. Trả 650.000 đồng (Trong số tiền 1.650.000 đồng thu của bị cáo Đ) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A058, màu đen, số IMEI1: 354860729446434, số IMEI2: 356320179446432, gắn sim số 0346182237, đã qua sử dụng cho bị cáo Trần Công Đ, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
2.4. Trả lại 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Dream, không gắn biển số, số khung RRKDCG1TT6XN00564, số máy VTT29JL1P50FMG000564, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, số IMEI 1: 861795044707431, số IMEI 2: 861795044707423, gắn sim số 0923324247, đã qua sử dụng cho bị cáo Vương Văn M.
Phần tranh luận: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, tuy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người chứng kiến vắng mặt, nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, nên căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự xử vắng mặt.
[3] Về hành vi của các bị cáo theo cáo trạng truy tố: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Trần Công Đ mua của một người không quen biết 01 túi ma túy heroin, sau đó đem về nhà cất giấu mục đích để sử dụng và bán cho người khác. Ngày 18/6/2024, M đã 2 lần bán ma tuý, cụ thể:
- - Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 18/6/2024, Đ bán 01 túi ma tuý heroin cho Vương Văn M với giá 500.000 đồng. M cầm túi ma tuý đi đến khu đô thị P, phường M, thành phố B nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an thành phố B bắt quả tang. Kết quả giám định số ma tuý thu giữ của M là 0,490 gam Heroin.
- - Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 18/6/2024, Đ bán 01 túi ma tuý heroin cho Vương Văn T3 với giá 500.000 đồng sau đó T3 đã sử dụng hết số ma tuý đã mua.
Kết quả giám định số ma túy thu giữ tại nhà Đ khi khám xét là 3,279 gam Heroin.
Hành vi nêu trên của M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Đ thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, của bị cáo M thuộc trường hợp nghiêm trọng; gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm những quy định về quản lý và sử dụng các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, bị xã hội lên án. Hành vi của các bị cáo là nguyên nhân kéo theo nhiều tội phạm nguy hiểm khác, là căn nguyên của căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS...là nguyên nhân lớn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, an toàn trật tự công cộng của xã hội. Các bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng chỉ vì mục đích, nhu cầu, lợi ích cá nhân, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đều có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do vậy, cần xử nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với những tội này.
[5] Về nhân thân các bị cáo: Bị cáo Đ đã bị Tòa án xét xử 03 lần (Trong đó có 01 lần xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”), 01 lần bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; Bị cáo M chưa bị Tòa án xét xử và chưa bị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính lần nào.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[8] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, các bị cáo đều khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên cả hai bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Bị cáo Đ đầu thú, có thời gian tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đ mua bán ma túy kiếm lợi nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự để phạt bổ sung đối với bị cáo Đ. Bị cáo M tàng trữ ma túy để sử dụng, bản thân không có công việc ổn định, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo M.
[10] Về vật chứng:
[10.1] Đối với các vật chứng là vật nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy, gồm:
- - 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT” đựng 0,417gam ma tuý Heroin và 01 phong bì niêm phong ký hiệu “KX” đựng 3,193gam ma tuý Heroin hoàn lại sau giám định;
- - 01 túi niêm phong ký hiệu “Vỏ bao gói hoàn lại của QT”, bên trong có 01 túi nilon màu trắng;
- - 01 túi niêm phong ký hiệu “Vỏ bao gói hoàn lại của KX”, bên trong có 01 vỏ hộp nhựa hình trụ có nắp đậy (dạng nắp vặn) màu trắng, 01 túi nilon màu trắng và 01 dây chun nịt màu vàng;
- - 01 xilanh, 01 lọ nước cất chưa qua sử dụng;
- - 01 hộp kim loại hình chữ nhật màu đỏ, có nắp đậy, bên trong có 02 mảnh giấy màu trắng, 02 bật lửa ga, 02 dao lam;
- - 01 túi nilon màu đen, bên trong có 01 hộp giấy hình chữ nhật đựng 01 cân điện tử màu đen;
- - 01 ví da màu đen;
[10.2] Số tiền 1.000.000 đồng nằm trong số tiền 1.650.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ là tiền bán ma túy mà có, nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[10.3] Trả lại số tiền 650.000 đồng (Trong số tiền 1.650.000 đồng thu của bị cáo Đ) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A058, màu đen, số IMEI1: 354860729446434, số IMEI2: 356320179446432, gắn sim số 0346182237, đã qua sử dụng cho bị cáo Đ do không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, số IMEI 1: 861795044707431, số IMEI 2: 861795044707423, gắn sim số 0923324247, đã qua sử dụng cho bị cáo M do không liên quan đến hành vi phạm tội.
[10.4] Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Dream, không gắn biển số, số khung RRKDCG1TT6XN00564, số máy VTT29JL1P50FMG000564, đã qua sử dụng thu giữ của Vương Văn M, xe này do M mua của người không quen biết tại thị xã V, tỉnh Bắc Giang vào năm 2020 và đã làm mất biển số. Kết quả tra cứu là xe có biển kiểm soát 60N1-9200, đứng tên đăng ký là ông Phạm Văn T4, sinh năm 1975, trú tại ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; hiện ông T4 vắng mặt tại địa phương, cơ quan điều tra không lấy được lời khai. Chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, nên cần trả lại xe này cho M.
[11] Những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đ, nhưng Đ không biết tên và địa chỉ của người đàn ông này, Cơ quan điều tra không xác định được, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với Vương Văn T3, Trần Công Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[12] Về án phí: Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo M là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí sơ thẩm theo quy định theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13] Ngoài ra cần áp dụng quy định tại Điều 329, Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án và tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị.
[14] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Các vấn đề về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng đối với bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT” đựng 0,417gam ma tuý Heroin và 01 phong bì niêm phong ký hiệu “KX” đựng 3,193gam ma tuý Heroin hoàn lại sau giám định.
- - 01 túi niêm phong ký hiệu “Vỏ bao gói hoàn lại của QT”, bên trong có 01 túi nilon màu trắng.
- - 01 túi niêm phong ký hiệu “Vỏ bao gói hoàn lại của KX”, bên trong có 01 vỏ hộp nhựa hình trụ có nắp đậy (dạng nắp vặn) màu trắng, 01 túi nilon màu trắng và 01 dây chun nịt màu vàng.
- - 01 xilanh, 01 lọ nước cất chưa qua sử dụng.
- - 01 hộp kim loại hình chữ nhật màu đỏ, có nắp đậy, bên trong có 02 mảnh giấy màu trắng, 02 bật lửa ga, 02 dao lam.
- - 01 túi nilon màu đen, bên trong có 01 hộp giấy hình chữ nhật đựng 01 cân điện tử màu đen.
- - 01 ví da màu đen;.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trần Công Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vương Văn M.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 292, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
1.1. Căn cứ điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Công Đ 07 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024. Phạt bổ sung bị cáo Trần Công Đ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.
1.2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vương Văn M 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024.
2.1. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng, gồm:
2.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 1.000.000 đồng (Trong số tiền 1.650.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Công Đ).
2.3. Trả 650.000 đồng (Trong số tiền 1.650.000 đồng thu của bị cáo Đ) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A058, màu đen, số IMEI1: 354860729446434, số IMEI2: 356320179446432, gắn sim số 0346182237, đã qua sử dụng cho bị cáo Trần Công Đ, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
2.4. Trả lại 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Dream, không gắn biển số, số khung RRKDCG1TT6XN00564, số máy VTT29JL1P50FMG000564, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, số IMEI 1: 861795044707431, số IMEI 2: 861795044707423, gắn sim số 0923324247, đã qua sử dụng cho bị cáo Vương Văn M.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Thắng |
Bản án số 219/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 219/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đạo, Mạnh. mua bán ma túy
