Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LONG BIÊN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:219/2024/DS-ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2024

V/v:Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG B IÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Tường Nga

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông (bà)Nguyễn Văn Đông
  2. Ông (bà) Nguyễn Thị Lâm

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Ngọc Huyền – Cán bộ Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Long Biên - thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Hằng – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên.

Từ ngày 26-30/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận Long Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 152/2023/TLST - DS ngày 17 tháng 10 năm 20243 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST –DS ngày 23 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 131/2024/QÐST-DS ngày 10/9/2024 của TAND quận Long Biên giữa:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị H-sinh năm 1962 và ông Kiều Xuân Q-sinh năm 1956; Cùng địa chỉ: Số C phố Đ, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Đại diện theo ủy quyền: Ông Bàn Trung H1, ông Nguyễn Duy Đ (Theo Giấy ủy quyền ngày 13/5/2024) địa chỉ: số H phố Chợ T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh

Bị đơn: Bà Đặng Thị N-sinh năm 1940; Địa chỉ: Số F ngách A phố T, Tổ B, phường T, quận L, Hà Nội;

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Lương Thị H2, sinh năm 1966

Địa chỉ: số A ngách E phố G, phường T, quận L, thành phố Hà Nội

(Theo giấy uỷ quyền số 2052 ngày 06/6/2024 tại văn phòng C)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lương Đình D-sinh năm 1964; Địa chỉ: Phố T, T, L, Hà Nội;
  2. Ông Lương Đình L-sinh năm 1968; Địa chỉ: Phố T, T, L, Hà Nội;
  3. Ông Lương Đình L1-sinh năm 1975; Địa chỉ: Số I Thôn X, xã Y, huyện G, Hà Nội;

(Ông H1, ông Đ, bà H2 có mặt)

(Ông D, ông L vắng mặt; ông L1 có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn trình bày:

Ngày 22/09/2006, vợ chồng bà Đặng Thị N ông Lương Đình K và vợ chồng bà Lê Thị H ông Kiều Xuân Q ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với thửa đất số 99 tờ bản đố số 05 có diện tích 436m² tại xóm L, T, L, Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất nông nghiệp số 0063/QSDĐ do UBND huyện G cấp ngày 31/08/2000 cho Hộ gia đình bà Đặng Thị N. Hợp đồng được UBND phường T chứng thực cùng ngày.

Giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất được các bên thỏa thuận là 54.500.000 đồng và xác nhận tại hợp đồng là đã thanh toán xong. Sau khi ký hợp đồng; bà N đã bàn giao thửa đất cho vợ chồng bà H. Bà H đã canh tác, trồng cây trên thửa đất và sử dụng từ đó đến nay.

Vợ chồng bà H đã nhiều lần giục bà N làm thủ tục sang tên thửa đất nhưng bà N vẫn không làm. Đến năm 2013, chồng bà N là ông Kim M nên việc làm thủ tục khó khăn hơn. Đến nay; bà N tuyên bố không thực hiện việc sang tên thửa đất cho vợ chồng bà H nữa; bản gốc của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn do bà N cất giữ.

Xác định bà N đã vi phạm nghĩa vụ theo Hợp đồng chuyển nhượng; vợ chồng bà H đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Long Biên giải quyết:

  1. Buộc bà Đặng Thị N phải hoàn tất thủ tục sang tên thửa đất số 99 tờ bản đồ số 5 diện tích 436 m2 tại địa chỉ: xóm L, phường T, quận L, TP . cho vợ chồng bà Lê Thị H ông Kiều Xuân Q theo quy định pháp luật.
  2. Yêu cầu bà N và các thành viên trong gia đình bà N không được gây khó khăn cản trở nguyên đơn trong quá trình thực hiện các quyền sử dụng đất đối với thửa đất này.

Thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng chỉ cần chủ hộ không cần các con nên vợ chồng bà H đến phường ký hợp đồng với vợ chồng nhà bà N. Thời điểm đó các con nhà bà N đều đã trưởng thành đã biết và không có ý kiến thắc mắc gì. Con trai của bà N là anh Lương Đình L1 đại diện cho gia đình đã nhận tiền chuyển nhượng (có giấy nhận tiền do bà N ông L1 ký hiện nay tôi đang giữ bản gốc), thực tế thì số tiền chuyển nhượng là 54.500.000 đồng, theo thoả thuận như trong hợp đồng thì bà N có trách nhiệm hoàn thiện thủ tục sang tên thửa đất cho vợ chồng bà H ông Q, sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng vợ chồng bà H ông Q đã được gia đình bà N bàn giao quyền sử dụng đất trên thực địa và vợ chồng bà H ông Q đã quản lý sử dụng từ đó cho đến nay, hằng năm tôi là người nộp thuế.

Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn – bà Lương Thị H2 trình bày:

Tôi đại diện cho mẹ tôi có quan điểm như sau: Gia đình tôi năm 2000 được nhà nước cấp đất nông nghiệp theo GCNQSDĐ có thời hạn sử dụng 20 năm từ năm 2000 đến năm 2020, GCN cấp mang tên hộ gia đình bà Đặng Thị N thời điểm đó gồm có 5 người gồm:

Ông Lương Đình K, sinh năm 1936; Bà Đặng Thị N, sinh năm 1940; Lương Đình D, sinh năm 1964; Lương Đình L, sinh năm 1968; Lương Đình L1 sinh năm 1975. Thửa đất trên liên quan đến quyền lợi của tất cả các thành viên trong hộ gia đình có tên trên.

Thửa đất số 99 thửa đất số 99 tờ bản đồ số 5 diện tích 436 m2 tại địa chỉ: xóm L, phường T, quận L, TP . trên hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ thì chỉ có tên ông bà K, N và ông bà Q, H do lúc đó tôi nghĩ chỉ vợ chồng tôi ký là được, các con chúng tôi không biết việc mua bán này. Nay tôi thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết như vậy là không đúng ảnh hưởng đến quyền lợi của các con tôi. Tôi thấy sai với pháp luật nhà nước.

Nhà nước có quy định hộ phi nông nghiệp không được mua đất nông nghiệp nhưng ông Q thời điểm đó không phải là cá nhân sản xuất nông nghiệp lại đứng tên mua đất nông nghiệp của gia đình chúng tôi nên việc mua bán đất này của ông bà Quang H3 là sai pháp luật của nhà nước. Nên tôi không đồng ý với việc mua bán ruộng đất của ông bà Quang H3 và yêu cầu ông bà phải trả lại ruộng cho hộ gia đình chúng tôi.

GCNQSDĐ mang tên hộ gia đình được cấp năm 2000 có thời gian sử dụng 20 năm, trong các năm qua gia đình chúng tôi vẫn hoàn thành nhiệm vụ nhà nước đến nay đã 24 năm. Đã hết hạn sử dụng gia đình tôi đã đi cấp lại gia hạn thành 70 năm để ổn định cuộc sống cho gia đình chúng tôi.

Nay bà H3, ông Q yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không thể thực hiện được vì hợp đồng vô hiệu do mua bán đất sai pháp luật. Gia đình tôi không tranh chấp quyền sử dụng đất với nhà bà H3, Q mà chỉ là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Tôi đề nghị Toà án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng đất nông nghiệp ngày 22 tháng 09 năm 2006 tại ủy ban phường T giữa bà Đặng Thị N và ông Lương Đình K với bà Lê Thị H và ông Kiều Xuân Q với lý do sai luật pháp nhà nước như các lý do tôi đã trình bày ở trên và đề nghị Toà án giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu. Ngoài ra, tôi không có yêu cầu nào khác.

Thửa đất trên hiện nay vẫn do nhà tôi đóng thuế và quản lý, tôi chỉ cho bà H canh tác, trồng trọt và thu lợi hoa màu trên đất từ năm 2006 đến nay.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lương Đình L1 trình bày

Tôi là một trong bốn người con của bà Đặng Thị N và ông Lương Đình K có quyền lợi hợp pháp trong sổ cấp đất nông nghiệp đứng tên hộ gia đình chúng tôi gồm có sáu thành viên đất nhà nước cấp cho những người làm nông sản xuất – lo cuộc sống ổn định.

Cuối năm 2023 tôi được tòa án L mời lên để giải quyết sự “Tranh chấp đất đai mua bán” thì tôi mới biết. Tôi về cung cấp hỏi các thành viên trong gia đình cũng không ai biết về việc mua bán đất đai của ông bà Hợp Q1 và mẹ tôi và cũng không ai được bàn bạc gì về việc mua bán này cả. Bố tôi vẫn bảo mảnh ruộng này mẹ cho mượn người ta canh tác. Đó là mảnh ruộng có diện tích 436 m².

Qua tìm hiểu tôi thấy việc mua bán của ông bà H – Q1 mua mảnh đất ruộng của gia đình tôi là không đúng với pháp luật. Đất của cả hộ gia đình tôi gồm sáu người đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau mà việc mua bán chúng tôi không được biết. Ông bà H – Q1 mua bán đất cũng không đúng với pháp luật nhà nước Nhà nước quy định những người phi nông nghiệp không được mua bán đất nông nghiệp. Đặc biệt là đất của hộ gia đình chúng tôi mà ông bà H Q1, chúng tôi là các con không được biết.

Quyển sổ nhà nước cấp cho gia đình tôi có hạn sử dụng 20 năm đến nay là 2024 đã hết hạn sử dụng. Trong thời gian những năm qua gia đình tôi vẫn hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước và quyển sổ đó đã được gia hạn mới 70 năm.

Hiện giờ quyển sổ đó đang thất lạc do ông tôi đã mất năm 2013 và bà tôi ở một mình tuổi đã cao. Giờ 85 tuổi rồi mắc bệnh tuổi già nhớ nhớ quên quên. Hiện tại bà không nhớ để ở đâu. Nay tôi làm đơn này đề nghị quý tòa án quận L giải quyết về việc mua bán đất của gia đình tôi và tôi xin trả lại số tiền mà ông bà H – Q1 đã mua của ông bà tôi không đúng với pháp luật và lấy lại mảnh đất ruộng đó để chúng tôi canh tác ổn định cuộc sống.

Tại phiên toà:

* Nguyên đơn đề nghị HĐXX:

  • - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Đặng Thị N phải thực hiện hoàn tất việc chuyển nhượng, sang tên thửa đất số 99, tờ bản đồ số 05, diện tích 436m² tại địa chỉ: Xóm L, phường T, quận L, Hà Nội cho vợ chồng bà Lê Thị H và ông Kiều Xuân Q theo quy định của pháp luật.
  • - Bác yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy Hợp đồng chuyển nhượng ngày 22/9/2006 tại UBND phường T
  • - Hủy đăng ký biến động ngày 27/022021 về việc gia hạn thời hạn sử dụng đất theo hồ sơ số 210225-0041 tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận L với các căn cứ:
  1. “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp” ký kết ngày22/09/2006 giữa bà Đặng Thị N và ông Lương Đình K với bà Lê Thị H và ông Kiều Xuân Q chuyển nhượng 436m² đất nông nghiệp, thuộc thửa số 99, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Xóm L, phường T, quận L, Hà Nội là giao dịch hợp pháp. Thửa đất số 99, tờ bản đồ 5, diện tích 436m² là tài sản hợp pháp của bà N, ông K. Diện tích đất nông nghiệp được giao cho HGĐ bà N là đất nông nghiệp giao theo NĐ 64, chia theo định xuất, là tài sản chung theo phần của hộ gia đình bà N

Điều 12 NĐ 64 quy định về giao đất nông nghiệp cho Hộ gia đình như sau: ở những địa phương mà đất nông nghiệp đang do hợp tác xã N2 quản lý, thì tính bình quân theo nhân khẩu nông nghiệp của xã hoặc hợp tác xã để giao cho hộ gia đình cá nhân" Khoản 1 Điều 216 BLDS 2005 quy định: “Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định uôi với tài sản chung". Khoản 1 Điều 223 BLDS 2005: “Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Tại BB xác minh nhân khẩu được giao đất ngày 07/8/2024 xác định tại thời điểm giao đất theo Nghị định 64 thì nhân khẩu trong hộ gia đình bà N được giao đất là có 05 nhân khẩu với tổng diện tích đất được giao là 4215m² (tương đương mỗi 01 nhân khẩu là 843m²). Theo đó phần diện tích đất nông nghiệp của vợ chồng ông Kim

Bà Nhiên được giao theo nghị định 64 là 1686m². Hợp đồng chuyển nhượng ngày 22/9/2006, ông K bà N1 đã cam đoan thửa đất số 99, tờ bản đồ 5, diện tích 436m² là phần tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông K1 bà N1, cụ thể: tại Diều 1.1 của Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 22/9/2006 nêu rõ: “Bên A cam đoan: Diện tích thửa đất nông nghiệp tại địa chỉ... thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bên A..."

Tại Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung hộ gia đình công chứng số 000344/2010/VBTTPC ngày 07/4/2010 tại Văn phòng C1, vợ chồng bà N1 và các thành viên trong hộ gia đình bà N1 cũng đã xác định phần tài sản của bà N1, ông K có thửa đất số 99, tờ bản đồ số 5, diện tích 436m². Văn bản này có đầy đủ chữ ký xác nhận của ông K, bà N1 và các con. Như vậy, có đủ căn cứ khẳng định thửa đất số 99, tờ bản đồ 5, diện tích 436m² là phần tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông K bà N1 và ông K bà N1 hoàn toàn có quyền định đoạt đối với thửa đất này.- Bà Đặng Thị N và ông Lương Đình K ký kết hợp đồng chuyển nhượng đất nông nghiệp trên cở sở tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép. Việc chuyển nhượng đất được lập thành văn bản là “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp” và được UBND phường Thượng Thanh chứng thực theo đúng quy định pháp luật.

Vợ chồng bà H, ông Q đã thanh toán toàn bộ số tiền nhận chuyển nhượng 436m² là 54.500.000 đồng cho gia đình bà N. Gia đình bà N đã bàn giao thửa đất số 99, tờ bản đồ số 05, diện tích 436m² cho vợ chồng bà H. Từ khi nhận chuyển nhượng thửa đất năm 2006 đến nay là 20 năm, vợ chồng bà H là người trực tiếp quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất 436m², sử dụng đất đúng mục đích, không tranh chấp với ai và thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo đúng quy định, trong suốt gần 20 năm qua, gia đình bà N không có bất kì ý kiến phản đối nào. Do vậy, việc chuyển nhượng diện tích đất 436m² giữa vợ chồng bà N và vợ chồng bà H là hoàn toàn đúng quy định pháp luật. Vì vậy, việc bị đơn yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp ngày 22/09/2006 là không có căn cứ

  1. Vợ chồng bà N đã chuyển nhượng đất cho vợ chồng bà H từ năm 2006. Đất đã bán cho bà H gần 20 năm nay, tiền bán đất gia đình bà N đã nhận đầy đủ. Sau 20 năm, bà N lật lọng là vừa vi phạm pháp luật, vừa vi phạm đạo đức. Tại đơn phản tố, bà N khai vợ chồng bà H không phải là người sản xuất nông nghiệp là cố tình khai báo gian dối, sai sự thật để trốn tránh trách nhiệm hoàn thiện thủ tục sang tên thửa đất đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà H. Bà H được giao ruộng theo Nghị định 64/CP, là người sản xuất nông nghiệp tại địa phương được UBND phường T xác nhận ngày 25/6/2021Vì vậy, yêu cầu phản tố của bà N đề nghị tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng đất nông nghiệp ngày 22/09/2006 giữa bà Đặng Thị N, ông Lương Đình K với bà Lê Thị H, ông Kiều Xuân Q với lý do sai luật pháp Nhà nước là không có căn cứ. Đề nghị Quý Tòa bác yêu cầu phản tố của bà N.Bả Nhiên khai gia đình bà N đã gia hạn thời hạn sử dụng đất đối với thửa đất số 99, tờ bản đồ số 5, diện tích 436m². Việc làm này vợ chồng bà H không hề hay biết. Việc bà N tự ý gia hạn thời hạn sử dụng đất đối với thửa đất số 99, tờ bản đồ số 5, diện tích 436m² là thửa đất đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà H, ông Q là xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của nguyên đơn. Để đảm bảo vụ án được giải quyết toàn diện, triệt để, chúng tôi đề nghị Q2 tòa hủy nội dung, thông tin đăng ký biển động của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q661096 do Ủy ban nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội cấp ngày 31/08/2000 tại “TRANG BỔ SUNG GIẢY CHỨNG NHẬN” ngày 27/02/2021: "Tiếp tục sử dụng đất đến ngày 10/07/2070. Hồ sơ số 210225-0041".

*Bị đơn không đồng ý với quan điểm và các căn cứ mà nguyên đơn trình bày. Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên phát biểu ý kiến:

Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng thủ tục, trình tự tố tụng, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đã được Tòa án thực hiện đúng, đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 26, 35, 39 BLTTDS năm 2015; Điều 109, 122, 127, 137 BLDS 205; Nghị quyết 326 về lệ phí, án phí tòa án,

  • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H, ông Kiều Xuân Q về việc buộc bà Đặng Thị N thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hoàn tất thủ tục sang tên đối với thửa đất số 99, tờ bản đồ số 05 tại xóm L, T, L, Hà Nội.
  • - Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đặng Thị N về việc tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/09/2006 giữa bà N, ông K với bà H, ông Q là vô hiệu. Bà N có nghĩa vụ trả cho bà H, ông Q số tiền 82.186.000 đồng đã nhận và giá trị tài sản cây cối bà H đã trồng trên đất là 2.864.400 đồng.

Về án phí: Nguyên đơn được miễn án phí vì là người cao tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

1.1.Về thẩm quyền: Đây là vụ án Dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với bị đơn là bà Đặng Thị N cư trú tại số F ngách A phố T, Tổ 21. TAND quận Long Biên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 184 BLTTDS.

1.2.Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu, do đó TAND quận Long Biên giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

2. Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  1. Buộc bà Đặng Thị N phải hoàn tất thủ tục sang tên thửa đất số 99 tờ bản đồ số 5 diện tích 436 m2 tại địa chỉ: xóm L, phường T, quận L, TP . cho vợ chồng bà Lê Thị H ông Kiều Xuân Q theo quy định pháp luật.
  2. Yêu cầu bà N và các thành viên trong gia đình bà N không được gây khó khăn cản trở nguyên đơn trong quá trình thực hiện các quyền sử dụng đất đối với thửa đất này.

Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp ngày 22/09/2006 giữa vợ chồng bà Đặng Thị N ông Lương Đình K và vợ chồng bà Lê Thị H ông Kiều Xuân Q ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với thửa đất số 99 tờ bản đồ số 05 có diện tích 436m² tại xóm L, T, L, Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất nông nghiệp số 0063/QSDĐ do UBND huyện G cấp ngày 31/08/2000 cho Hộ gia đình bà Đặng Thị N có xác nhận của UBND phường T.

Về hình thức của hợp đồng:

Hợp đồng chuyển nhượng có xác nhận của UBND phường Thượng Thanh phù hợp quy định tại thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT của Bộ tư pháp, bộ tài nguyên và môi trường ngày 13/6/2006.

Về nội dung của hợp đồng:

Bên chuyển nhượng: Bà Đặng Thị Nhiên và ông Lương Đình Kim

Bên nhận chuyển nhượng: Bà Lê Thị Hợp và ông Kiều Xuân Quang

Đối tượng của hợp đồng: Thửa đất số 99 tờ bản đố số 05 có diện tích 436m²; giá chuyển nhượng:54.500.000đ.

Qua tài liệu xác minh tại UBND phường T:Tài sản này là tài sản chung của hộ gia đình bà N gồm 05 thành viên là bà N, ông K, ông Lương Đình D, ông Lương Đình L, ông Lương Đình L1. Theo các tài liệu do Văn phòng Đ1 chi nhánh quận L cung cấp thể hiện: Ông Lương Đình K và bà Đặng Thị N nhận chuyển quyền toàn bộ diện tích còn lại tại GCNQSDĐ số phát hành Q 681096 (trong đó có thửa đất số 99 tờ bản đồ số 5 diện tích 436m²). Theo văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung hộ gia đình đã được Văn phòng đăng ký đất và nhà quận L xác nhận ngày 21/5/20110. Do đó xác định thời điểm bà H, ông Q ký hợp đồng chuyển nhượng (năm 2006) thửa đất số số 99 tờ bản đồ số 5 là tài sản chung của hộ gia đình bà N. Việc chuyển nhượng tài sản chung cần có sự đồng ý của tất cả các thành viên trong gia đình. Sự đồng ý thể hiện qua việc có thông tin và chữ ký của tất cả các thành viên trong gia đình. Quá trình giải quyết vụ án ông D, ông L không có quan điểm, ông L1 có quan điểm không biết việc chuyển nhượng và không đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H, ông Q. Hợp đồng chuyển nhượng tài sản chung nêu trên cũng không có thông tin và chữ ký của các thành viên khác trong gia đình. Việc chuyển nhượng tài sản chung phải có sự chấp thuận của tất cả các đồng sở hữu; nhưng nội dung của Hợp đồng chưa thể hiện sự nhất trí của các thành viên còn lại nên thuộc trường hợp vi phạm điều cấm của pháp luật. Do vậy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp lập ngày 22/09/2006 giữa bà N, ông K và bà H, ông Q bị vô hiệu theo quy định tại Điều 122, 127 Bộ luật dân sự 2005.

Hợp đồng nêu trên vô hiệu nên không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên từ thời điểm giao kết. Bà Đặng Thị N có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Lê Thị H và ông Kiều Xuân Q số tiền 54.500.000 đồng đã nhận cùng giá trị tài sản là cây cối của bà H hiện đang trồng trên đất là 2.864.400 đồng theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 137 Bộ luật dân sự 2005.

Khi ký hợp đồng chuyển nhượng, hai bên ký kết đều biết tình trạng pháp lý của thửa đất là tài sản chung nhưng vẫn ký hợp đồng không có đầy đủ các đồng sở hữu nên xác định cả hai bên cùng có lỗi, không bên nào phải bồi thường thiệt hại (nếu có). Về giá trị thửa đất đã tăng lên 109.872.000 đồng – 54.500.000 đồng = 55.372.000 đồng so với thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng; mỗi bên có trách nhiệm chịu một nửa là 27.686.000 đồng. Cộng với số tiền bà N đã nhận của bà H, ông Q là 54.500.000 đồng và giá trị cây cối, hoa màu là 2.864.400 đồng, tổng cộng số tiến bà N phải trả lại cho bà H, ông Q là 85.050.400 (Tám mươi lăm triệu không trăm năm mươi nghìn bốn trăm) đồng.

Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/9/2006 tại UBND phường T giữa bà Đặng Thị N, ông Lương Đình K và bà Lê Thị H, ông Kiều Xuân Q bị vô hiệu nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu bà N và các thành viên trong gia đình bà N không được gây khó khăn cản trở nguyên đơn trong quá trình thực hiện các quyền sử dụng đất đối với thửa đất này.

Đối với yêu cầu hủy đăng ký biến động ngày 27/022021 về việc gia hạn thời hạn sử dụng đất theo hồ sơ số 210225-0041 tại Văn phòng Đ1 - Chi nhánh quận L do nguyên đơn trình bày tại bản tự khai ngày 05/9/2024 và tại phiên toà là yêu cầu bổ sung sau khi Toà án đã mở phiện họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải do đó Toà án không thụ lý giải quyết.

3. Xét yêu cầu phản tố của bị đơn:

Ngày 02/8/2024 bà Đặng Thị N có yêu cầu phản tố với nội dung đề nghị Toà án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng đất nông nghiệp ngày 22 tháng 09 năm 2006 tại ủy ban phường T giữa bà Đặng Thị N và ông Lương Đình K với bà Lê Thị H và ông Kiều Xuân Q với lý do sai luật pháp nhà nước, thửa đất liên quan đến quyền lợi của tất cả các thành viên trong hộ gia đình (05 người) nhưng chỉ có bà N và ông Kim K2. Với các căn cứ đã phân tích xét thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp lập ngày 22/09/2006 giữa bà N, ông K và bà H, ông Q là vô hiệu, yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Bà Lê Thị H và ông Kiều Xuân Q được miễn án phí DSST vì là người cao tuổi có đơn đề nghị miễn tiền tạm ứng án phí, án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 26; Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 109; Điều 122; Điều 127; Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H, ông Kiều Xuân Q về việc buộc bà Đặng Thị N thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hoàn tất thủ tục sang tên đối với thửa đất số 99, tờ bản đồ số 05 tại xóm L, T, L, Hà Nội và yêu cầu bà N và các thành viên trong gia đình bà N không được gây khó khăn cản trở nguyên đơn trong quá trình thực hiện các quyền sử dụng đất đối với thửa đất.
  • - Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đặng Thị N về việc tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/09/2006 giữa bà N, ông K với bà H, ông Q là vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu. Bà Đặng Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị H, ông Kiều Xuân Q số tiền 85.050.400 (Tám mươi lăm triệu không trăm năm mươi nghìn bốn trăm) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 của luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị H, ông Kiều Xuân Q được miễn án phí.

5. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Long Biên;
  • - Chi cục THADS quận Long Biên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lý Thị Tường Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 219/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 219/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger