Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 219/2023/HS-ST

Ngày 16-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Phụng.
  2. Ông Vũ Việt Phương.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Tô Hồng Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 204/2023/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh ngày 27/5/1983 tại tỉnh Thái Bình;

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Hoàng Thị M; Bị cáo có vợ thứ nhất là Hồ Thị D (đã ly hôn) vợ thứ hai là Phạm Thị T, có 02 con; Tiền sự: Không.

Tiền án: Bản án số 167/2020/HSST ngày 09/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/11/2021, chấp hành xong trách nhiệm dân sự ngày 05/3/2021.

Bị tạm giữ từ ngày 11/8/2023 đến ngày 17/8/2023 chuyển tạm giam. Có mặt.

Người chứng kiến:

  1. Vũ Ngọc T, sinh năm 1980, trú tại tổ x, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
  2. Ông Lê Thanh T, sinh năm 1970, trú tại đường P, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 11/8/2023, Trần Văn T đi xe ôm của một người không quen biết đến đê sông Trà Lý thuộc khu vực tổ x, phường K thì gặp một người nam giới khoảng 20 tuổi không quen biết, T hỏi mua được 3 gói ma túy với giá 550.000 đồng. T đã cho số ma túy trên vào túi quần bên trái đang mặc và đi bộ tìm nơi sử dụng. Đến 11 giờ 30 phút, khi Trần Văn T đến khu vực thôn Đ, xã V, thành phố T thì gặp tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình thấy T có biểu hiện liên quan đến hoạt động ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Vũ Ngọc T và ông Lê Thanh T, T đã lấy từ túi quần bên trái của T 03 gói ma túy được gói trong giấy tráng kim màu trắng giao nộp cho tổ công tác, mở kiểm tra cả 3 gói bên trong đều có chất bột màu trắng dạng cục T khai nhận là Heroine T mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong vào trong phong bì dán kín, trên mép dán có chữ ký của T và người chứng kiến. Sau đó tổ công tác đưa T và mời người chứng kiến về trụ sở Công an xã Vũ Đông, thành phố Thái Bình để làm rõ. Tại trụ sở Công an xã Vũ Đông tổ công tác đã kiểm tra Trần Văn T, nhưng không phát hiện thu giữ, quản lý gì. Sau đó tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định.

Bản kết luận giám định số 1218/KL-KTHS, ngày 15/8/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: mẫu vật quản lý của Trần Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng 0,4030 gam (Không phẩy bốn nghìn không trăm ba mươi gam). Heroin STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của người chứng kiến là ông Lê Thanh T và ông Vũ Ngọc T đều thể hiện như lời khai của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 209/CT-VKSTPTB ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2023. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình lập ngày 11/8/2023, tại trụ sở Công an xã Vũ Đông, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Bản kết luận giám định số 1218/KL-KTHS ngày 15/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/8/2023, tại khu vực thôn Đ, xã V, thành phố T, tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Trần Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 03 gói ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,4030 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

[3] Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:... c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...” Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như vậy cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo đã nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật.

[5] Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 0,3078 gam ma túy, loại Heroin (Heroine) được hoàn trả sau giám định vì là vật cấm tàng trữ, lưu hành.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người nam giới khoảng 20 tuổi tại đê sông Trà Lý thuộc khu vực tổ x, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình nhưng không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,3078 gam ma túy, loại Heroin (Heroine) được hoàn trả sau giám định và toàn bộ bao gói được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1218/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

(Vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố Thái Bình và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 30/10/2023).

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/11/2023.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - CQCSĐT Công an thành phố Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 219/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 219/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/8/2023, tại khu vực thôn Đ, xã V, thành phố T, tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Trần Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 03 gói ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,4030 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger