TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 219/2024/HS- ST Ngày: 16/9/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Trung Kiên
Ông Lò Văn Chương.
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lưu Ngọc Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 233/2024/TLST- HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với Bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn L; sinh ngày: 23/3/2006, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn C; sinh năm 1984; Con bà: Lò Thị H; sinh năm 1984. Gia đình Bị cáo có 02 anh em, Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình, Bị cáo chưa có vợ con. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 16/3/2021, Bị cáo bị Công an thành phố Đ xử phạt Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 23/11/2023, Bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt Bị cáo 05 tháng tù. Ngày 18/3/2024, Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Khi bị kết án Bị cáo là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, nên được coi là không có án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/7/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Chị Sìn Thị X; sinh năm 1995; Địa chỉ: Bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Xuân T; sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 19/7/2024, Lò Văn L đi bộ một mình từ nhà tại bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, đi xung quanh khu vực trong bản Phiêng Ban, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên mục đích xem nhà nào có sơ hở, dễ leo trèo vào trong nhà để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực gần trạm trộn bê tông thuộc bản Phiêng Ban, xã T, huyện Đ, quan sát nhìn thấy một nhà xây, bên cạnh nhà có một vườn bưởi có tường bao xung quanh, Bị cáo trèo qua tường đi vòng ra đằng sau nhà cấp bốn, lúc này có ánh điện bên Trung đoàn Cảnh sát Cơ động chiếu sang, Bị cáo quan sát nhìn thấy rõ sau nhà xây xung quanh có hàn khung sắt, thấy có một ô thoáng trên nóc nhà, ngoài ra có một ô cửa nhà vệ sinh đang mở có thể vào được trong nhà. Bị cáo trèo lên khung sắt, khi lên được mái nhà sau đó Bị cáo chui người qua ô thoáng, Bị cáo luồn người xuống ô cửa trên nhà vệ sinh, sau khi vào được trong nhà, đi vào trong nhìn thấy một phòng ngủ bên cạnh nhà vệ sinh, cửa phòng mở không đóng, đi tiếp vào bên trong nhìn thấy có người đang nằm ngủ. Khi đó Bị cáo quan sát thấy một chiếc điện thoại di động và một túi xách màu đen ở trên mặt bản trang điểm, Bị cáo lấy chiếc điện thoại di động cất vào túi quần đằng sau bên trái, đồng thời cầm lấy chiếc túi xách màu đen ở tay phải đi ra ngoài khu vực nhà vệ sinh để nhanh chóng tẩu thoát bằng lối vào ban đầu. Đồng thời khi đó anh Lê Xuân T, sinh năm 1994, nơi thường trú: Bản Phiêng Ban, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đang nằm ngủ trên giường trở mình và tỉnh giấc có nhìn thấy bóng người đi ra phía nhà vệ sinh, anh T đi ra ngoài khu vực nhà vệ sinh phát hiện Lò Văn L, anh T hỏi “mày vào đây làm gì?", L không nói gì, đồng thời anh T giữ L lại, khi đấy L đưa chiếc túi xách màu đen đang cầm ở tay phải của Bị cáo và lấy một chiếc điện thoại di động ở túi quần đằng sau bên trái đưa cho anh T, thấy những tài sản mà Bị cáo đưa cho là tài sản của vợ. Anh T gọi chị Sìn Thị X; sinh năm 1995, nơi thường trú: Bản Phiêng Ban, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đang nằm ngủ trong phòng dậy để biết việc anh T bắt quả tang đối với Lò Văn L đột nhập vào nhà trộm cắp tài sản gồm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCO X3 Pro, màu đen, loại màn hình cảm ứng và chiếc túi xách màu đen, để ở trên mặt bàn trang điểm. Đồng thời anh T gọi điện trình báo đến Công an xã T về việc bắt quả tang Lò Văn L đột nhập vào nhà trộm cắp tài sản, khi lực lượng Công an xã T đến nhà anh T và đồng thời gọi người chứng kiến đến để làm việc. Bị cáo đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc, lực lượng Công an xã T tiến hành kiểm tra chiếc túi xách màu đen, bên trong có tổng số tiền là 2.144.000 đồng. Công an xã T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật. Sau khi hoàn tất thủ tục tổ công tác đã đưa Bị cáo cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an xã T để làm rõ hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 19/7/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ gửi yêu cầu định giá tài sản số: 1411/YC- ĐGTS đến Hội đồng định giá Tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Điện Biên theo đúng quy định.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 26/KL-ĐGTS, ngày 23/07/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: 01chiếc điện thoại di động và 01 túi xách màu đen đã cũ, Lò Văn L trộm cắp vào ngày 19/7/2024 có trị giá là 930.000 đồng.
Ngày 26/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số 1222/QĐ-ĐCSHS đến Phòng K - Công an tỉnh Đ về việc giám định tiền. Ngày 03/8/2024, tại bản kết luận giám định số: 1284/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh Đ đối với tổng số tiền là 2.144.000 đồng kết luận là tiền thật.
Tổng cộng tài sản mà Lò Văn L trộm cắp được là: 3.074.000 đồng (Ba triệu không trăm bảy mươi bốn ngàn đồng).
Trong quá trình điều tra Bị cáo, Bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá và tại phiên tòa hôm nay Bị cáo cũng không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 176/CT-VKSĐB ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn L về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Khoản 1 Điều 173/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội " Trộm cắp tài sản".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 19/7/2024, Công an xã T sau khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCO X3 Pro, màu đen, số IMEI 1: 814110.577936483; IMEI 2: 861411057936491, loại màn hình cảm ứng đã cũ và 01 chiếc túi xách màu đen đã cũ bên trong có tổng số tiền 2.144.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ làm rõ tài sản trên chủ sở hữu là của chị Sìn Thị X. Ngày 13/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 1289/QĐ- ĐCSHS trả lại tài sản trên cho chị Sìn Thị X. Sau khi nhận lại tài sản chị X không có yêu cầu Bị cáo phải bồi thường về mặt dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu Bị cáo phải bồi thường về mặt dân sự.
Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc trả lại tài sản theo Quyết định xử lý vật chứng số: 1289/QĐ - ĐCSHS ngày 13/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của người Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận điều tra và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào đêm ngày 19/7/2024, tại nhà ở của chị Sìn Thị X và anh Lê Xuân T ở Bản P, xã T, huyện Đ, Bị cáo đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCO X3 Pro màu đen trị giá 900.000 đồng, 01 chiếc túi xách bằng vải màu đen, một mặt có ba sọc kẻ màu trắng trị giá 30.000 đồng và 2.144.000 đồng tiền mặt. Tổng giá trị tài sản Bị cáo trộm cắp được là: 3.074.000 đồng của chị Sìn Thị X nhưng Bị cáo chưa mang được tài sản ra khỏi nơi quản lý của chủ sở hữu thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
- [2] Về tính chất của vụ án:
Bị cáo Lò Văn L lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tiền và tài sản có giá trị 3.074.000 đồng. Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng lười lao động nhưng muốn có tiền để chi tiêu cá nhân nên đã cố ý phạm tội. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của Bị cáo là ít nghiêm trọng. Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
- [3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo:
- - Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên được gia đình nuôi dưỡng học hết lớp 07/12 thì nghỉ học.
- Ngày 16/3/2021, Bị cáo bị Công an thành phố Đ xử phạt Cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 23/11/2023, Bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt Bị cáo 05 tháng tù. Ngày 18/3/2024, Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Khi bị kết án Bị cáo là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, nên được coi là không có án tíc nhưng Bị cáo là người có nhân thân xấu.
- - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Bị cáo có ông nội là Lò Văn Đ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của Viện kiểm sát đề nghị, HĐXX thấy có đủ cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên đối với mức hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị từ 09 tháng tù đến 01 năm tù đối với Bị cáo, HĐXX thấy rằng có thể xử mức hình phạt cao hơn mức đề nghị, mới mang tính chất răn đe, giáo dục Bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
- [4] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của Bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của Bị cáo không có, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
- [5] Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:
- [5.1] Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc trả lại tài sản là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCO X3 Pro, màu đen, số IMEI 1: 814110.577936483; IMEI 2: 861411057936491, loại màn hình cảm ứng đã cũ và 01 chiếc túi xách màu đen đã cũ bên trong có tổng số tiền 2.144.000 đồng cho chủ sở hữu là chị Sìn Thị X theo Quyết định xử lý vật chứng số: 1289/QĐ - ĐCSHS ngày 13/8/2024 của Công an huyện Đ.
- [5.2] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu Bị cáo phải bồi thường về mặt dân sự.
- [6] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
- [6.1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- [6.2] Về sự vắng mặt của bị hại là chị Sìn Thị X, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Xuân T. Xét thấy Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định pháp luật.
- [7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- [8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt Bị cáo: 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (19/7/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận đề nghị của Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự đối với Bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Chấp nhận việc trả lại tài sản là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCO X3 Pro, màu đen, số IMEI 1: 814110.577936483; IMEI 2: 861411057936491, loại màn hình cảm ứng đã cũ và 01 chiếc túi xách màu đen đã cũ bên trong có tổng số tiền 2.144.000 đồng cho chủ sở hữu là chị Sìn Thị X theo Quyết định xử lý vật chứng số: 1289/QĐ - ĐCSHS ngày 13/8/2024 của Công an huyện Đ.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
Bản án số 219/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 219/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù
