Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 219/2023/HS-ST

Ngày: 15-11-2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thuỳ Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tiên, ông Nguyễn Văn Quản

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thống – Thư ký Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Quyên – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 293/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1124/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D – sinh năm: 1993 tại Cần Thơ; Nơi ĐKHKTT: 175 ấp T, xã Đ, huyện C, Thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: không có chỗ ở nhất định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1957; vợ, con: chưa có.

Tiền sự: không.

Tiền án: Tại Bản án số 225/2019/HSST ngày 26/11/2019, Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/4/2022.

Nhân thân: Tại Bản án số 184/2014/HSST ngày 23/7/2014, Toà án nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015 và thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/6/2023 đến nay; có mặt.

  • - Bị hại: Chị Phan Thị N, sinh năm: 1980; địa chỉ: 5 đường số A, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
  • - Người làm chứng: Anh Huỳnh Thanh P, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/4/2023, Nguyễn Văn D điều khiển xe môtô biển số 65K1-594.43 đi trên Quốc lộ A để về Cần Thơ. Khi đi đến khu vực Bến xe N thuộc phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện anh Huỳnh Thanh P điều khiển xe môtô ba gác chở chị Phan Thị N ngồi bên cạnh trên tay có cầm một túi xách màu đen nên D điều khiển xe đi theo sau để tìm cơ hội cướp giật tài sản.

Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, khi đến khu vực cầu vượt T, Quận A, anh P điều khiển xe ba gác tấp vào lề đường để mua đồ thì D điều khiển xe vượt qua khoảng trống trước hẻm A Quốc lộ A, khu phố C, phường T, Quận A rồi quay xe lại quan sát. Khi thấy chị N xuống xe đi vào tiệm tạp hoá mua thuốc lá và lên xe chuẩn bị đi tiếp thì D điều khiển xe môtô đi ngược chiều với xe ba gác của anh P, chị N rồi tăng tốc độ, áp sát vào bên tay trái của chị N, dùng tay trái giật túi xách đang để trên đùi của chị N tăng ga tẩu thoát về hướng cầu Trường Đai trên đường L. Chị N tri hô, chạy bộ đuổi theo nhưng không kịp. Khi qua hết cầu Trường Đ1, D quay xe đi về hướng cầu vượt S.

Khi đến khu vực cầu vượt S thuộc địa phận thành phố D, tỉnh Bình Dương, D dừng lại kiểm tra bên trong túi xách có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (không rõ loại), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi (không rõ loại), tiền Việt Nam 3.600.000đồng và 02 căn cước công dân. D lấy tiền và 02 điện thoại bỏ vào túi quần, còn túi xách và 02 căn cước công dân Dương vứt tại lề đường số 1 thuộc phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi R (không rõ loại), D bán tại cửa hàng C, địa chỉ 49 đường A, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (do chị Vũ Thị V làm chủ) với giá 600.000đồng. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (không rõ loại), D cầm cố tại cửa hàng T3, địa chỉ A đường A, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (do anh Đặng Thái T làm chủ) với giá 600.000đồng. Qua làm việc, chị V, anh T trình bày do thời gian đã lâu nên không nhớ có mua hay cầm cố điện thoại của D.

Đối với xe môtô nhãn hiệu Honda Wave biển số 65K1-594.43, D mua vào đầu năm 2023 với giá 19.000.000đồng tại cửa hàng mua bán xe máy ở Cần Thơ, xe do D đứng tên chủ sở hữu nhưng xe mua trả góp, chưa trả hết tiền nên D chưa được giao giấy đăng ký xe. Để tránh bị phát hiện D đã bán xe này cho một người thanh niên tại khu vực cổng khu công nghiệp T với giá 6.000.000đồng.

Ngày 29/5/2023, Công an Q phát hiện D ở khách sạn H1 tại địa chỉ H đường T, khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp nên mời về trụ sở Công an Q làm việc và D đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

- Tài sản bị thiệt hại:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi, không thu giữ được;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, không thu giữ được;
  • + 01 túi xách màu đen và 02 căn cước công dân qua truy tìm không thu giữ được.

- Số tiền Việt Nam 3.600.000đồng D đã tiêu xài hết.

- Vật chứng thu giữ:

  • + 01 USB chứa đoạn video clip ghi nhận hình ảnh sự việc.
  • + 01 đôi dép D mang khi thực hiện hành vi phạm tội.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Model: TA- 117, số Imel 352182860150036, gắn sim số 0777832245.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo (không rõ loại), gắn sim số 0762426364.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 211/KL-HĐĐGTS ngày 20/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A (BL 57) đã kết luận: “01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (không rõ nhãn hiệu), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi (không rõ loại) và 01 túi xách (không rõ hiệu) nên không đủ cơ sở định giá qua tài liệu đối với tài sản”.

Ngày 24/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 208/QĐ-CQCSĐT. Ngày 06/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định khởi tố bị can số 422/QĐ-CQCSĐT đối với Nguyễn Văn D về tội “Cướp giật tài sản”.

Ngoài ra, ngày 18/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Cần Thơ ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi cướp giật tài sản đối với Nguyễn Văn D xảy ra trên địa bàn Quận Ô.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên. Ngoài bị cáo ra không còn ai khác cùng tham gia thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 5.600.000đồng.

Công bố lời khai bị hại và người làm chứng khai tại cơ quan điều tra có nội dung như bị cáo đã khai nhận. Về trách nhiệm dân sự, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.600.000đồng bao gồm 3.600.000đồng bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại và trị giá 02 chiếc điện thoại, 01 túi xách.

Tại Cáo trạng số 221/CT-VKS-Q12 ngày 06/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn D và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 5.600.000đồng.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
    • + Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Model TA-117 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo.
    • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 đôi dép thu giữ trong vụ án.

Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ; lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận:

Vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 23/4/2023, tại khu vực cầu vượt T, Quận A, Nguyễn Văn D đã có hành vi điều khiển xe môtô biển số 65K1-594.43 áp sát xe của anh Huỳnh Thanh P đang chở theo chị Phan Thị N ngồi bên cạnh và dùng tay trái giật túi xách của chị N bên trong có 02 điện thoại di động, 02 căn cước công dân và tiền Việt Nam 3.600.000đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D đã phạm vào tội: “Cướp giật tài sản” quy định Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo đã bị Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương kết án về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lần này lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý nên hành vi của bị cáo là “tái phạm nguy hiểm”; bị cáo sử dụng xe môtô để cướp giật tài sản gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại và những người khác nên hành vi của bị cáo là “dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Vì vậy bị cáo phải chịu các tình tiết định khung theo quy định tại điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương cũng như gây tâm lý lo ngại trong nhân dân. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói riêng.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 184/2014/HSST ngày 23/7/2014, Toà án nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015 và thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm nên đã được xoá. Đối với tiền án do Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tuy chưa được xoá nhưng đã được dùng để tính tình tiết định khung hình phạt tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng có 02 tình tiết định khung hình phạt, có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về tội “Cướp giật tài sản” mà không lấy đó làm bài học lại tiếp tục tái phạm nguy hiểm. Ngoài ra, bị cáo còn bị các cơ quan tiến hành tố tụng Quận Ô, Thành phố Cần Thơ tiến hành điều tra, truy tố, xét xử về tội “Cướp giật tài sản”, thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[7] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 USB chứa hình ảnh bị cáo cướp giật tài sản đã được lưu kèm trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01 đôi dép liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Model: TA-117, số I 352182860150036 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo (không rõ loại) của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với sim điện thoại số 0777.832.xxx và sim số 0762426364 là vật chứng của vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Cần thơ thụ lý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 là có căn cứ.

Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 65K1- 594.43 do Nguyễn Văn D đứng tên chủ sở hữu là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nhưng D đã bán lại cho một thanh niên (không rõ lai lịch) qua truy tìm chưa thu giữ được.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 5.600.000đồng theo yêu cầu của bị hại nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 5.600.000đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Về vấn đề khác:

Đối với việc bị cáo khai khi bán, cầm cố 02 chiếc điện thoại tại Cửa hàng C, địa chỉ 49 đường A, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (do chị Vũ Thị V làm chủ) và Cửa hàng T3, địa chỉ A đường A, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (do anh Đặng Thái T làm chủ) bị cáo đều không nói cho họ biết về nguồn gốc điện thoại do bị cáo phạm tội mà có. Mặt khác, chủ hai cửa hàng khai nhận không nhớ có mua hay cầm cố 02 chiếc điện thoại nói trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý là có căn cứ.

Đối với 02 căn cước công dân không thu hồi được và bị hại không có ý kiến gì, bị hại có thể báo mất để được cấp lại.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ vào điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2023.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự

Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại chị Phan Thị N số tiền 5.600.000đồng (Năm triệu sáu trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021

  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 đôi dép.
  • + Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Model: TA-117, số I 352182860150036 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo (không rõ loại).

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 177/QĐ-VKS ngày 06/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 500.000đồng (Năm trăm ngàn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày hận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.HCM (1b);
  • - VKSND Tp.HCM (1b);
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM (1b);
  • - Phòng PC53 Công an Tp.HCM (1b);
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra Công an Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS Công an Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THA dân sự Quận 12 (1b);
  • - UBND phường nơi cư trú của bị cáo (1b);
  • - Bị cáo (1b);
  • - Những người tham gia tố tụng khác (2b);
  • - Bộ phận THA hình sự (5b);
  • - Lưu hồ sơ, văn thư (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đặng Thuỳ Trang

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 219/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 219/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger