Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 219/2023/HS-ST

Ngày 11/8/2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Ninh và ông Trần Xuân Viện;
  • Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Minh Trang, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 204/2023/TLST-HS ngày 14/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2023/QĐXXST-HS ngày 25/7/2023, đối với:

Bị cáo Lương Văn A, tên gọi khác: không; sinh năm 1982, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm L, xã L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T, đã chết và bà Phạm Thị P; có vợ là: Đặng Thị H, có 02 con. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2023 đến nay, (có mặt).

Người chứng kiến: Anh Nguyễn Đình C, sinh năm 1986, vắng mặt;

Nơi cư trú: xóm S, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 28/5/2023, tổ công tác của Công an phường T, thành phố T đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ D của phường phát hiện 02 người đàn ông đang đi trên xe mô tô có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu dừng xe kiểm tra, người đàn ông điều khiển xe chấp hành, người đàn ông ngồi phía sau xe nhảy xuống xe bỏ chạy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra đối với người đàn ông điều khiển xe mô tô. Người đàn ông tự khai tên là Lương Văn A, còn người ngồi sau tên là H1 nhà ở huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Do mới quen biết nên A không rõ lai lịch địa chỉ của H1. Anh khai nhận đang cất giấu ma túy trong người và tự giác lấy từ túi quần phía trước bên phải 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác, Anh khai nhận đó là H2 mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với A, thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của Anh 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva BKS 20H4-7915.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn A có khối lượng 0,303 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng trên đưa vào bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 733/KL-KTHS ngày 05/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng 0,303 gam.

Tại cơ quan điều tra, Lương Văn A khai nhận: khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/5/2023, Lương Văn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva BKS 20H4-7915 chở người đàn ông tên H1 đi từ khu vực phường T, thành phố T đến khu vực gần ga Đ thuộc phường Q, thành phố T, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, A đưa cho H1 số tiền 200.000 đồng để H1 đi mua Heroine. H1 cầm tiền và xuống xe đi bộ khoảng 05 phút sau thì quay lại đưa cho Anh 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng. Anh cầm gói H2 mà H1 vừa mua được cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi tiếp tục điều khiển xe chở H1 đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường T bắt quả tang như trên.

Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong kí hiệu A1, A2;

01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva BKS 20H4 – 7915, đăng ký xe mang tên Nghiêm Thúy H3, sinh năm 1963, địa chỉ: C T, thành phố T. Xác minh tại địa phương không có người nào có lai lịch như trên. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, A đều khai mua chiếc xe trên của một người phụ nữ không quen biết, do đã lâu nên A không nhớ thời gian mua và giá tiền mua là bao nhiêu, khi mua bán không viết giấy tờ mua bán, người phụ nữ giao đăng ký xe cho A.

Hiện vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 207/CT-VKSTPTN ngày 13/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Lương Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:

Tuyên bố bị cáo Lương Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn A từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2; Tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva BKS 20H4- 7915 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Hồi 13 giờ 15 phút ngày 28/5/2023, tại khu vực tổ D, phường T, thành phố T, Lương Văn A có hành vi tàng trữ 0,303 gam ma túy, loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, điều luật có nội dung:

  1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;
  2. Heroine, ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

[4] Tính chất của vụ án là nghiêm trong, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là mối hiểm hoạ cho cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Sau khi xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người nghiện ma tuý, tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về vật chứng của vụ án: đối với số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong bì ký hiệu A1, A2 là vật chứng của vụ án cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ. Cần tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva BKS 20H4- 7915 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

[9] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, A khai đưa cho H1 số tiền 200.000 đồng để H1 đi mua ma túy. H1 mua ma túy ở đâu thì Anh không biết. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của đối tượng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý là phù hợp quy định pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lương Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn A 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2023.
  3. Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo A (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu huỷ: 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2.
  5. Tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva BKS 20H4 – 7915, đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Lương Văn A.
  6. Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 392 ngày 07/8/2023 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
  7. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào ngân sách nhà nước.
  8. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 219/2023/HS-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 219/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger