|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 219/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04 - 7 - 2024 Về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo,
Ông Mai Xuân Thường.
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 340/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Trần Văn H, sinh 1992.
Địa chỉ: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Nơi ở hiện nay: O – izumiotsu shi – sukematsu dan chi 3-29-302, Nhật Bản.
Vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).
- Bị đơn: chị Trần Thị T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Nơi ở hiện nay: Nhật Bản. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Long B và bà Nguyễn Thị H1. Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày, nguyên đơn, anh Trần Văn H trình bày:
Anh Trần Văn H và chị Trần Thị T tự nguyện yêu thương nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An ngày 10 tháng 11 năm 2017. Sau khi chung sống một thời gian thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do tính tình, quan điểm sống của hai người không hợp nhau. Trong cuộc sống anh H và chị T thường xuyên xẩy ra xung đột, cãi vã nhau, tình cảm vợ chồng bắt đầu dần đi xuống và không thể ở chung với nhau. Hiện nay anh H đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản và chị T cũng làm việc ở Nhật Bản. Anh H yêu cầu Tòa án cho anh được ly hôn chị Trần Thị T.
Về con chung: anh H, chị T có một con chung là Trần Hải Đ, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2018. Hiện nay cháu Đ đang được ông Trần Long B và bà Nguyễn Thị H1 (ông bà nội cháu) chăm sóc, nuôi dưỡng tại thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn, anh H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và anh nhờ ông bà nội cháu chăm sóc đến khi anh H về nước; không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Quá trình từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho thân nhân và niêm yết theo quy định, nhưng bị đơn là chị Trần Thị T vắng mặt, do đó không có ý kiến.
Anh Trần Văn H không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú hoặc làm việc hiện nay của chị T, chỉ biết chị T đang sinh sống tại Nhật Bản.
Theo Công văn số 759/QLXNC-P3 ngày 05/01/2024 của Cục Q - Bộ C thì chị Trần Thị T xuất cảnh qua Cửa khẩu N1 ngày 16/01/2021, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu bà Lê Thị M (mẹ đẻ chị T), trú tại thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn (chị T) và yêu cầu bà M thông báo cho chị T biết việc anh H đang khởi kiện ly hôn chị T tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, đề nghị gửi lời khai, ý kiến về Tòa án. Ngày 16/4/2024, Tòa án đã trực tiếp xác minh thông tin tại bà M, bà M cho biết, chị T hiện đang làm việc tại Nhật Bản từ tháng 01/2021 và đã về Việt Nam 01 lần vào tháng 2/2024, sau đó lại quay trở lại N. Từ khi quay lại N đến nay chị T vẫn thường xuyên liên lạc về với bà qua mạng xã hội, chị T đồng ý ly hôn anh H. Về địa chỉ của chị T ở N thì bà không biết.
Xét thấy, chị T đã biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa anh H và chị T, nhưng đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào thể hiện ý kiến của chị T liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Trần Long B và bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Anh H và chị T có một con chung là cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2018. Do bố mẹ cháu làm ăn ở nước ngoài nên ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ từ năm 2020 đến nay.
Nếu anh H, chị T ly hôn, ông B, bà H1 đồng ý tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của anh H, chị T cho đến lúc anh H, chị T về nước. Về chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ do anh H gửi về. Việc chăm sóc cháu Đ là ông bà tự nguyện, không yêu cầu anh H hoặc chị T hoàn trả chi phí nuôi dưỡng cháu Đ.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Trần Văn H được ly hôn chị Trần Thị T. Về con chung: đề nghị giao con chung cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2018, cho anh Trần Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ông B, bà H1 có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của anh H, chị T trong thời gian anh H, chị T ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con: do anh H chưa yêu cầu nên không xem xét. Về chi phí chăm sóc cháu Đ: ông B, bà H1 không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: anh H không yêu cầu, chị T chưa có ý kiến nên không xem xét. Về án phí: anh H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng
[1.1] Về thẩm quyền: anh Trần Văn H, chị Trần Thị T có địa chỉ cư trú tại thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An. Anh H, chị T hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài (Nhật Bản) nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về thủ tục hòa giải: căn cứ khoản 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì anh Trần Văn H và chị Trần Thị T1 vắng mặt tại nơi cư trú và hiện nay đang ở nước ngoài.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự
Đối với nguyên đơn - anh Trần Văn H, ủy quyền cho anh Phạm Thế H2 nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Anh H2 đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và anh H có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh H là đúng quy định pháp luật.
Đối với bị đơn – chị Trần Thị T, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Việc chị T không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án, thể hiện chị T cố tình dấu địa chỉ.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Trần Long B và bà Nguyễn Thị H1, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ và đã có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vắng mặt ông B, bà H1 là đúng quy định.
Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử vắng mặt những người tham gia tống tụng là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.
[2] Về nội dung
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Trần Văn H và chị Trần Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày ngày 10 tháng 11 năm 2017 tại Ủy tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, hai bên chung sống một thời gian thì anh H, chị T xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Năm 2023, anh H đã làm đơn yêu cầu Toà yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với chị T, nhưng sau đó anh H đã rút đơn và Tòa án ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, từ đó đến nay mối quan hệ tình cảm giữa anh H và chị T cũng không được cải thiện. Hiện nay anh H và chị T đang sinh sống tại Nhật Bản, nhưng lại không quan tâm đến nhau. Xét thấy tình trạng tình cảm vợ chồng giữa anh Trần Văn H và chị Trần Thị T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp chận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Trần Văn H được ly hôn chị Trần Thị T.
[2.2] Về con chung: anh Trần Văn H và chị Trần Thị T có một con chung là cháu Trần Hải Đ, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2018. Cháu Đ hiện đang được ông B, bà H1 (ông bà nội cháu) chăm sóc nuôi dưỡng. Anh H có nguyện vọng được chăm sóc cháu.
Xét thấy: hiện tại không xác định được chị T đang ở đâu, làm gì tại nước ngoài, nên không thể giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Đ đã được ông B, bà H1 chăm sóc từ năm 2020 đến nay. Anh H có nguyện vọng được nuôi con chung, nhưng nhờ ông bà nội cháu là ông B, bà H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng khi anh còn ở nước ngoài và được ông B, bà H1 nhất trí. Do đó, cần giao con chung của anh H, chị T cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng, ông B, bà H1 có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ trong thời gian anh H ở nước ngoài theo quy định tại Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị T có thể khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung khi có điều kiện.
Về cấp dưỡng: anh Trần Văn H không yêu cầu, nên miễn xét.
Qua xác minh tại bà Lê Thị M (mẹ đẻ chị T), bà M cho biết chị Thương yêu c được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/tháng. Tuy nhiên, chị T đã biết Tòa án đang giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh H, nhưng chị T không có ý kiến gửi về cho Tòa án. Tháng 02/2024, chị T về Việt Nam cũng không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Nên không có căn cứ để xem xét yêu cầu này của chị T.
Về chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ: ông B, bà H1 không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không được ai cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: anh Trần Văn H chưa yêu cầu và chị T chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: anh Trần Văn H phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 104; 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; 37, 38, 39 Điều 147; khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T2 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn H.
- Về hôn nhân: anh Trần Văn H được ly hôn chị Trần Thị T.
- Về con chung:
- Giao con chung là Trần Hải Đ, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2018 cho anh Trần Văn H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng kê từ tháng 7/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Ông Trần Long B, bà Nguyễn Thị H1 chịu trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ trong thời gian anh H ở nước ngoài.
- Về cấp dưỡng: anh Trần Văn H chưa yêu cầu; chị Trần Thị T chưa có ý kiến nên miễn xét; ông B, bà H1 không có ý kiến về chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: anh Trần Văn H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0001276 ngày 21/10/2023 (anh Phạm Thế H2 nộp thay).
- Về quyền kháng cáo:
- Anh Trần Văn H, chị Trần Thị T đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Ông Trần Long B và bà Nguyễn Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy Quỳnh |
Bản án số 219/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 219/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
