Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 219/2024/DS-PT

Ngày 03 - 5-2024

“V/v Tranh chấp quyền

sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Tặng;

Ông Nguyễn Chí Dũng;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Thị Được - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 198/2023/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 186/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 03 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1997.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Ngọc R, sinh năm 1943;

Cùng địa chỉ: Số nhà C, tổ B, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị N và ông R: Luật sư Phạm Hoàng Đ – Công ty L1, chi nhánh tỉnh Đ.

Địa chỉ: Số G, Quốc lộ C, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn:

1. Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1973.

2. Chị Đỗ Thị Bé T, sinh năm 1977.

Người đại diện theo uỷ quyền của chị T: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1973;

Cùng địa chỉ: Số nhà C, tổ B, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Số nhà D, ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

2. Ông Nguyễn Ngọc R, sinh năm 1943.

Địa chỉ: Số nhà C, tổ B, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông R: Luật sư Phạm Hoàng Đ – Công ty L1, chi nhánh tỉnh Đ.

Địa chỉ: Số G, Quốc lộ C, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

3. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1940 (chết).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T2:

3.1. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1961;

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

3.2. Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1965;

Địa chỉ: Số nhà C, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

3.3. Bà Nguyễn Thị Bé Ú, sinh năm 1971;

Địa chỉ: Khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

3.4. Bà Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh năm 1963;

Địa chỉ: Khóm D, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

4. Ông Nguyễn Ngọc R1, sinh năm 1937;

Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

5. Chị Nguyễn Thị Kim T3, sinh năm 1986

Địa chỉ: Số nhà H, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

6. Nguyễn Hữu K, sinh năm 2008;

7. Nguyễn Tấn P, sinh năm 2019;

Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Hữu K và anh Nguyễn Tấn P: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1973;

Cùng địa chỉ: Số C, tổ B, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

8. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.

Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng H2, chức vụ: Phó trưởng Phòng Thẩm tra và Xác minh đơn.

Địa chỉ: Số C, Quốc lộ C, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người kháng cáo: Anh Nguyễn Thanh H là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc N và người đại diện hợp pháp ông Nguyễn Ngọc R trình bày:

Phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa số 76, tờ bản đồ số 12, đất tại xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp hiện nay do chị Nguyễn Ngọc N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông R (do cha ông R để lại cho ông). Ông R là người quản lý, sử dụng đất từ khi cho đất đến nay. Năm 1998 ông R được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên phần đất có căn nhà ông R đang sinh sống.

Đến năm 2005, ông R cho chị Nguyễn Thanh T1 (con ruột ông R) cất nhà tạm trên đất để ở, tại vị trí phía sau nhà của ông R thuộc một phần thửa 76. Đến năm 2016, chị T1 không ở nữa nên thỏa thuận với ông R cho căn nhà cho anh Nguyễn Thanh H. Năm 2017, để tiện cho việc mua bán và chăm sóc ông R nên ông R đồng ý cho anh H về ở căn nhà của chị T1 và đồng thời kêu anh H, chị T về sinh sống. Việc cho căn nhà trên đất được sự thống nhất của ông R và chị T1. Đối với phần đất thuộc quyền sử dụng của ông R (tại thời điểm năm 2017) và ông R không có cho đất anh H.

Sau khi anh H về ở trên căn nhà và phần đất đang tranh chấp thì anh H có tu bổ, sửa chữa căn nhà. Việc này ông R và chị T1 vẫn biết.

Năm 2020, ông R tặng cho quyền sử dụng đất lại cho Nguyễn Ngọc N và chị N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thuộc quyền sử dụng của chị N. Việc tặng cho quyền sử dụng đất cho chị N thì anh H vẫn biết và không có ý kiến gì. Tuy nhiên, trong quá trình sinh sống tại căn nhà của chị T1 thì vợ chồng anh H không chăm sóc ông R mà còn có thái độ hỗn láo với ông R và dẫn đến hai bên có mâu thuẫn nên chị N không đồng ý cho ở nữa mà yêu cầu vợ chồng anh H di dời nhà và tài sản trên đất để trả lại đất cho chị N.

Tại biên bản hòa giải ngày 26/02/2020, anh H đồng ý di dời nhà trả đất lại cho ông R. Tuy nhiên đến nay anh H không thực hiện.

Nay chị Nguyễn Ngọc N yêu cầu anh Nguyễn Thanh H, chị Đỗ Thị Bé T cùng hai người con là Nguyễn Hữu K và Nguyễn Tấn P di dời nhà và cùng toàn bộ tài sản có trên đất để trả lại cho chị N diện tích theo đo đạc thực tế là 100,6m², thuộc một phần thửa 76, tờ bản đồ số 12, đất tại xã A, huyện C.

Chi phí di dời anh H và chị T tự chịu.

Hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính thửa thửa 76, tờ bản đồ số 12, đất tại xã A, huyện C do chị N đang giữ bản chính ở nhà không cầm cố hay thế chấp cho ai.

Thống nhất với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/4/2022; Biên bản định giá tài sản ngày 20/4/2022 và sơ đồ đo đạc ngày 19/4/2022 của Trung tâm kỹ thuật và Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.

- Bị đơn anh Nguyễn Thanh H đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị đơn chị Đỗ Thị Bé T trình bày:

Anh H thống nhất phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa số 76, tờ bản đồ số 12, đất tại xã A, huyện C nay do chị Nguyễn Ngọc N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Anh H thừa nhận nguồn gốc đất là của ông nội anh H cho ông Nguyễn Ngọc R (ông R là cha ruột của anh H) nên thuộc tài sản cá nhân ông R. Mặc dù trước đây phần đất cấp cho hộ ông R nhưng anh H xác định quyền sử dụng đất là tài sản thuộc cá nhân của ông R.

Trước đây anh Hữu sinh s bên vợ thuộc xã M, huyện C. Đến năm 2017, chị T1 và ông R thống nhất cho anh H căn nhà cất trên phần đất tranh chấp hiện nay anh đang sử dụng. Sau đó ông R đề nghị anh H làm hộ khẩu để được ở trên căn nhà này và sau này nếu nhà nước có cho tái định cư thì anh H sẽ được một cái nền tái định cư. Anh H xác định ông R và chị T1 chỉ cho căn nhà trên đất chứ không có cho đất.

Quá trình sinh sống tại căn nhà trên đất tranh chấp từ năm 2017 đến nay thì anh H có tu bổ, sửa chữa căn nhà và làm thêm đường đi ra lộ bằng xi măng (do nhà anh H nằm phía sau nhà ông R) với số tiền 20.000.000 đồng.

Năm 2020 ông R tặng cho quyền sử dụng đất chị Nguyễn Ngọc N (là con gái ruột của anh H với vợ trước), khi đó anh H không biết việc cho đất này, đến khi tranh chấp mới biết. Tuy nhiên anh H không có ý kiến gì về việc cho đất giữa ông R với chị N, bởi vì đất của ông R nên ông cho ai là quyền của ông R.

Đối với việc hòa giải trước đây tại địa phương vào ngày 26/02/2020 thì anh H có đồng ý dở nhà trả cho chị T1, không có việc trả đất cho ông R. Tuy nhiên hiện nay anh H không đồng ý di dời, bởi vì anh không có chỗ ở nào khác; hơn nữa từ trước đến nay anh cũng chưa được ông R cho đất; ngoài ra, mồ mã mẹ anh còn ở trên đất nên anh H đề nghị cho anh được ở trên đất để tiện cho việc chăm sóc mồ mã mẹ anh; bên cạnh đó anh và vợ anh cũng không có hỗn láo và vẫn chăm sóc cho ông R bình thường.

Nay anh H không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn. Anh H có đơn phản tố yêu cầu thu hồi một phần diện tích đất theo đo đạc thực tế là 100,6m² do chị Nguyễn Ngọc N đứng tên quyền sử dụng đất thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 12 để công nhận cho anh H được quyền sử dụng đất đối với diện tích theo đo đạc thực tế là 100,6m² và được quyền sở hữu đối với căn nhà diện tích là 48,6m², thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc ấp A, xã A, huyện C.

Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu của anh H mà buộc anh H và chị T di dời tài sản, nhà cửa để trả lại đất cho chị N thì anh H không yêu cầu giải quyết bồi thường chi phí sửa chữa nhà và chi phí làm đường đi. Nếu có tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

Thống nhất với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/4/2022; Biên bản định giá tài sản ngày 20/4/2022 và sơ đồ đo đạc ngày 19/4/2022 của Trung tâm kỹ thuật và Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc R trình bày:

Ông R thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn, ông R không trình bày gì thêm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thanh T1 trình bày:

Chị T1 thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn và thống nhất theo ý kiến ông R. Chị T1 xác định căn nhà do chị xây cất năm 2005 trên phần đất của ông R, do ông R cho chị T1 cất tạm trên đất. Đến năm 2017, chị T1 cho anh Nguyễn Thanh H (là em ruột chị T1). Do đó chị T1 xác định về đất là tài sản cá nhân của ông R đã cho chị N nên thuộc quyền sử dụng của chị N, về xác căn nhà chị T1 đã cho anh H có sự thống nhất của ông R nên thuộc sở hữu của anh H. Nay chị T1 không tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Kim T3 trình bày:

Chị T3 thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn. Nay chị T3 không tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc R là Luật sư Phạm Hoàng Đ trình bày:

Căn cứ biên bản hòa giải ngày 26/02/2020 của UBND xã A, ông R trình bày “Thống nhất là cho H ở nhà hiện có,.... thời gian từ ngày 26/02/2020 đến 26/02/2021 là H phải di dời đi nơi khác trả đất lại cho tôi”. Ông H trình bày ý kiến: “Qua nội dung cha tôi là ông R, nêu trên là tôi đồng ý... Tôi biết đất tôi đang ở là của ba tôi, đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Thứ hai, tại Biên bản hòa giải ngày 28/8/2023 của Tòa án, ông H, bà T thừa nhận ông R chỉ cho ông H nhà trên đất chứ không cho đất; thừa nhận ông R tặng cho chị N thửa 76 thì ông H, bà T không có ý kiến, bởi vì đất của ông R nên ông cho ai là quyền của ông. Đồng thời, tại phiên tòa ông H, bà T cũng thừa nhận thửa đất 76 đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất hợp pháp, đúng quy định cho chị N.

Thứ ba, căn cứ Công văn số 849/UBND-TNMT ngày 28/6/2022 của UBND huyện C xác định: “...Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N đúng trình tự, thủ tục theo quy định...”. Tại Công văn số 3260/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 03/8/2023 của STNMT thì ngày 30/12/2019, hộ ông R xác lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà N. Đến ngày 21/02/2020, bà N được Sở T ký cấp giấy do nhận tặng cho. Việc cấp giấy chứng nhận QSD đất là phù hợp theo quy định.

Do đó, từ các chứng cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị N. Buộc hộ gia đình ông H gồm anh Nguyễn Thanh H, chị Đỗ Thị Bé T, Nguyễn Hữu K và Nguyễn Tấn P di dời nhà tạm, vật kiến trúc và đồ đạc có trên đất để trả lại cho chị Nguyễn Ngọc N phần đất diện tích 100,6m² trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8 về M1 theo Sơ đồ đo đạc ngày 19/4/2022 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ, thuộc một phần thửa 76, tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại xã A, huyện C. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông H.

Bản án dân sự sơ thẩm số 198/2023/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2023

của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp quyết định:

Căn cứ Khoản 9, Điều 26, Khoản 1, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 100, 166, 170, Điều 203 Luật đất đai 2013; Điều 164, 166, 169, Điều 579 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về quyền sử dụng đất của chị Nguyễn Ngọc N đối với anh Nguyễn Thanh H và các thành viên trong hộ gia đình anh H.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Thanh H về việc yêu cầu thu hồi một phần diện tích đất theo đo đạc thực tế là 100,6m² do chị Nguyễn Ngọc N đứng tên quyền sử dụng đất thuộc một phần thửa số 76, tờ bản đồ số 12 để công nhận cho anh H được quyền sử dụng đất đối với diện tích theo đo đạc thực tế là 100,6m² và được quyền sở hữu đối với căn nhà diện tích là 48,6m², thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 12 đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Buộc hộ anh Nguyễn Thanh H gồm anh Nguyễn Thanh H, chị Đỗ Thị Bé T, Nguyễn Hữu K và Nguyễn Tấn P cùng có nghĩa vụ liên đới giao trả cho chị Nguyễn Ngọc N toàn bộ diện tích đất theo đo đạc thực tế là thực tế là 100,6m² đất ONT và di dời toàn bộ tài sản công trình, vật kiến trúc có trên đất (trừ ngôi mộ của bà Lê Thị B) thuộc phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8 trở về M1 thuộc một phần của thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 12 đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, do chị Nguyễn Ngọc N đứng tên quyền sử dụng đất.

(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/4/2022; Biên bản định giá tài sản ngày 20/4/2022 và sơ đồ đo đạc ngày 19/4/2022 của Trung tâm kỹ thuật và Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ).

  1. Quyền lưu cư: Hộ anh Nguyễn Thanh H gồm anh Nguyễn Thanh H, chị Đỗ Thị Bé T, Nguyễn Hữu K và Nguyễn Tấn P được quyền lưu cư trong thời hạn là 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Chị Nguyễn Ngọc N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng ngày 15/3/2022 theo biên lai số 0007380 của Cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.

+ Anh Nguyễn Thanh H và chị Đỗ Thị Bé T cùng có nghĩa vụ chịu 1.690.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 462.500 đồng ngày 01/8/2022 theo biên lai số 0009519 của Cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Anh H và chị T còn phải nộp thêm số tiền là 1.227.500 đồng.

  1. Về chi phí tố tụng:

Buộc anh Nguyễn Thanh H và chị Đỗ Thị Bé T cùng phải chịu 3.857.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Do nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc N nộp tạm ứng và đã chi xong, nên buộc anh Nguyễn Thanh H và chị Đỗ Thị Bé T cùng có nghĩa vụ phải trả lại cho chị N số tiền 3.857.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử vụ án, bị đơn anh Nguyễn Thanh H có yêu cầu kháng cáo. Anh H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho anh được tiếp tục sinh sống trên phần đất tranh chấp tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt chị N, ông R, Luật sư Đ, ông L, chị T1, chị T3, anh H, chị T. Các đương sự khẳng định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án, không yêu cầu thu thập chứng cứ gì thêm. Anh H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình.

Anh H trình bày: Anh yêu cầu được ông R đồng ý cho ở tiếp tục phần đất tranh chấp thì anh có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi cho ông R sử dụng đất. Nếu ông R, chị N đồng ý tách quyền sử dụng đất cho anh H, chị T thì anh chị cũng đồng ý trả giá trị đất theo quy định của Nhà nước.

Luật sư Đ trình bày: Do mâu thuẫn gia đình trầm trọng, anh H đã đồng ý di dời nhà trả đất nên đề nghị Hội đồng xét xử y án sơ thẩm.

Chị N, ông R trình bày: Thống nhất theo ý kiến trình bày của Luật sư Đ. Chị N trình bày do có mâu thuẫn nên sẽ về chăm sóc ông R sau khi ông H, chị T di dời nhà đi.

Chị T3, chị T1 trình bày: Thống nhất theo ý kiến của ông R, chị N vì mâu thuẫn đã lâu mà không giải quyết được nên hai bên không thể sống chung gần nhau được, đề nghị anh H di dời nhà để trả đất.

Anh L trình bày: Không có ý kiến tranh chấp gì trong vụ án.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất không có khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng, không có yêu cầu khiếu nại gì khác.

[2] Về nội dung vụ án tranh chấp các đương sự Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ và diễn biến phiên tòa quyết định:

Các đương sự thống nhất nguồn gốc thửa đất số 76, tờ bản đồ số 12 là của cha mẹ ông R cho cá nhân ông R. Vào năm 1998 hộ ông R được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt QSDĐ) đối với thửa 76, tờ bản đồ số 12. Mặc dù giấy đất cấp cho hộ nhưng các đương sự trong vụ án kể cả anh H đều xác định đây là tài sản cá nhân của ông R. Tài sản này ông R được cho khi ông R có vợ là bà Lê Thị B, nhưng sau khi bà B chết, các con ông R thống nhất cho ông R được toàn quyền sử dụng và hiện nay các đồng thừa kế cùng hàng thứ nhất là con ông R và bà B, kể cả bị đơn là anh H đều xác định là quyền sử dụng đất của bà B có trong quyền sử dụng đất chung của vợ chồng với ông R không phải là di sản của bà B và không tranh chấp yêu cầu gì về thừa kế QSDĐ này.

[3] Do đó, đối với việc ông R tự nguyện làm hợp đồng tặng cho thửa số 76, tờ bản đồ số 12 cho nguyên đơn là chị Nguyễn Ngọc N là hoàn toàn phù hợp và đúng quy định pháp luật, ngoài ra bị đơn anh Nguyễn Thanh H cũng có ý kiến thống nhất không có tranh chấp gì đối với hợp đồng tặng cho này.

[4] Xét yêu cầu của chị N về việc yêu cầu hộ gia đình anh H (gồm anh Nguyễn Thanh H, chị Đỗ Thị Bé T, anh Nguyễn Hữu K, anh Nguyễn Tấn P) di dời toàn bộ tài sản ra khỏi phần đất tranh chấp trả lại cho chị N phần đất tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế là 100,6m². Xét thấy, nguyên đơn chị N thừa nhận hộ anh H được sử dụng phần đất tranh chấp là được ông R (là cha của anh H) kêu về cho ở nhờ từ năm 2017. Trước đây anh Hữu sinh s bên vợ thuộc xã M, huyện C. Căn nhà hộ anh H đang ở là trước đây ông R cho chị T1 cất nhà ở tạm, thời gian sau chị T1 có chỗ ở khác, nên chị T1 và ông R có kêu hộ anh H về cho ở nhờ trên căn nhà này. Do căn nhà chị T1 cất là căn nhà tạm nên khi anh H về ở cũng xuống cấp một phần, nên chị T1 không có yêu cầu gì đối với căn nhà trước đây của chị T1. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định, việc gia đình anh H ở trên đất là được ông R cho ở nhờ. Đến năm 2019 ông R làm hợp đồng tặng cho chị N toàn bộ thửa đất này, thời gian sau anh H biết nhưng không có ý kiến gì và xác định thửa đất này là tài sản cá nhân của ông R nên ông R muốn cho ai là quyền của ông R. Do đó, xác định phần đất tranh chấp là tài sản của chị N được ông R cho hợp pháp, hộ gia đình anh Hữu sinh s trên phần đất này nhưng không được chị N đồng ý. Nay chị N yêu cầu yêu cầu hộ gia đình anh H (gồm anh Nguyễn Thanh H, chị Đỗ Thị Bé T, anh Nguyễn Hữu K, anh Nguyễn Tấn P) di dời toàn bộ tài sản ra khỏi phần đất tranh chấp trả lại cho chị N phần đất tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế là 100,6m² là có căn cứ.

[5] Xét đối với yêu cầu phản tố của anh H về việc yêu cầu thu hồi một phần diện tích đất theo đo đạc thực tế là 100,6m² do chị N đứng tên quyền sử dụng đất thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 12 để công nhận cho anh H được quyền sử dụng đất đối với diện tích theo đo đạc thực tế là 100,6m² và được quyền sở hữu đối với căn nhà diện tích là 48,6m², thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 12 đất tọa lạc tại ấp A, xã A.

Xét thấy, anh H cho rằng việc hộ gia đình anh Hữu sinh s trên phần đất tranh chấp là được ông R cho ở luôn và hiện tại hộ gia đình của anh H đã được cấp hộ khẩu trên phần đất này, ngoài ra không còn chứng cứ nào khác. Ông R đều phủ nhận việc này, ông R chỉ đồng ý cho hộ ông H về ở nhờ để tiện cho việc làm ăn của anh H, nhưng vợ chồng anh H có thái độ không tôn trọng ông R, nhiều lần xúc phạm và lớn tiếng với ông R không chăm lo cho ông R, nên ông R và chị T1 có yêu cầu ấp giải quyết buộc hộ anh H trả lại căn nhà cho ở nhờ, thì tại biên bản hoà giải ở ấp ngày 02/12/2020, anh H có ý kiến thống nhất dở nhà trả lại cho chị T1 trong thời hạn 60 ngày, nhưng anh H không thực hiện cho đến nay, ngoài ra tại biên bản hoà giải ngày 28/8/2023 anh H cũng thừa nhận là ông R và chị T1 cho nhà chứ không có đất. Do đó, việc anh H khẳng định ông R cho anh phần đất tranh chấp là không có căn cứ, ngoài ra anh H cho rằng hiện tại hộ gia đình của anh được cấp hộ khẩu và hộ anh không ở nơi ở nào khác nên yêu cầu được cấp quyền sử dụng đất đối với phần đất này là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[6] Đối với căn nhà cùng tài sản trên đất tranh chấp, chị N, ông R thừa nhận là tài sản của bị đơn, nên yêu cầu hộ gia đình anh H di dời toàn bộ tài sản trên đất tranh chấp, trả lại đất cho nguyên đơn. Riêng đối với ngôi mộ của bà Lê Thị B (bà nội của nguyên đơn), được ông R chôn cất trên phần đất này trước khi tặng cho chị N đất. Do đó chị N không yêu cầu giải quyết đối với phần ngôi mộ này.

[7] Trong quá trình giải quyết và tại phiên toà anh H có ý kiến nếu trường hợp buộc hộ anh di dời tài sản tài trên đất tranh chấp trả lại đất cho chị N thì anh H không yêu cầu Toà giải quyết bồi thường chi phí sửa chữa nhà và chi phí làm đường đi. Nếu có tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Do đó không đặt ra xem xét.

[8] Từ những cơ sở phân tích trên, xét thấy nguyên đơn chị N yêu cầu hộ anh H, gồm: anh Nguyễn Thanh H, chị Đỗ Thị Bé T cùng hai người con là anh Nguyễn Hữu K và anh Nguyễn Tấn P di dời nhà và cùng toàn bộ tài sản có trên đất để trả lại cho chị N diện tích theo đo đạc thực tế là 100,6m², thuộc một phần thửa 76, tờ bản đồ số 12 đất tại xã A là có căn cứ.

Anh H yêu cầu thu hồi một phần diện tích đất theo đo đạc thực tế là 100,6m² do chị N đứng tên quyền sử dụng đất thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 12 để công nhận cho anh H được quyền sử dụng đất đối với diện tích theo đo đạc thực tế là 100,6m² và được quyền sở hữu đối với căn nhà diện tích là 48,6m², thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 12 đất tọa lạc tại ấp A, xã A là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[9] Đối với các đương sự còn lại không có yêu cầu gì nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[10] Đồng thời căn cứ vào nội dung quyết định các đương sự phải chịu chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.

[11] Sau khi xét xử sơ thẩm thì anh H kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh H và không cung cấp thêm chứng cứ gì mới.

[12] Tại các phiên tòa phúc thẩm, các đương sự xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì các đương sự không còn chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy ngoài nhận định Tòa án cấp sơ thẩm ra các đương sự thống nhất mâu thuẫn gia đình hiện nay trầm trọng đã kéo dài thời gian lâu mà không hàn gắn được với nhau. Anh H thừa nhận đất là của cá nhân ông R và quyền sử dụng đất là ông R tặng cho chị N. Anh H kháng cáo yêu cầu được tiếp tục sử dụng đất để chăm sóc lo cho ông R nhưng cũng không có phương án để thực hiện được. Ông R, chị N không đồng ý sống gần với anh H vì đã nhiều lần xúc phạm ông R, các chị em anh H cũng đồng ý với ý kiến của chị N, ông R.

Do đó không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Thanh H là đúng theo quy định pháp luật.

[13] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Thanh H; giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[14] Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên anh Nguyễn Thanh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Thanh H.

- Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về quyền sử dụng đất của chị Nguyễn Ngọc N đối với anh Nguyễn Thanh H và các thành viên trong hộ gia đình anh H.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Thanh H về việc yêu cầu thu hồi một phần diện tích đất theo đo đạc thực tế là 100,6m² do chị Nguyễn Ngọc N đứng tên quyền sử dụng đất thuộc một phần thửa số 76, tờ bản đồ số 12 để công nhận cho anh H được quyền sử dụng đất đối với diện tích theo đo đạc thực tế là 100,6m² và được quyền sở hữu đối với căn nhà diện tích là 48,6m², thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 12 đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Buộc hộ anh Nguyễn Thanh H gồm anh Nguyễn Thanh H, chị Đỗ Thị Bé T, Nguyễn Hữu K và Nguyễn Tấn P cùng có nghĩa vụ liên đới giao trả cho chị Nguyễn Ngọc N toàn bộ diện tích đất theo đo đạc thực tế là thực tế là 100,6m² đất ONT và di dời toàn bộ tài sản công trình, vật kiến trúc có trên đất (trừ ngôi mộ của bà Lê Thị B) thuộc phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8 trở về M1 thuộc một phần của thuộc thửa số 76, tờ bản đồ số 12 đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, do chị Nguyễn Ngọc N đứng tên quyền sử dụng đất.

(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/4/2022; Biên bản định giá tài sản ngày 20/4/2022 và sơ đồ đo đạc ngày 19/4/2022 của Trung tâm kỹ thuật và Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ).

  1. Quyền lưu cư: Hộ anh Nguyễn Thanh H gồm anh Nguyễn Thanh H, chị Đỗ Thị Bé T, Nguyễn Hữu K và Nguyễn Tấn P được quyền lưu cư trong thời hạn là 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Chị Nguyễn Ngọc N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng ngày 15/3/2022 theo biên lai số 0007380 của Cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.

+ Anh Nguyễn Thanh H và chị Đỗ Thị Bé T cùng có nghĩa vụ chịu 1.690.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 462.500 đồng ngày 01/8/2022 theo biên lai số 0009519 của Cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Anh H và chị T còn phải nộp thêm số tiền là 1.227.500.

  1. Về chi phí tố tụng:

Buộc anh Nguyễn Thanh H và chị Đỗ Thị Bé T cùng phải chịu 3.857.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Do nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc N nộp tạm ứng và đã chi xong, nên buộc anh Nguyễn Thanh H và chị Đỗ Thị Bé T cùng có nghĩa vụ phải trả lại cho chị N số tiền 3.857.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm:

- Buộc anh Nguyễn Thanh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0004383 ngày 25/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Anh H đã nộp và chi xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng KTNV và THA TAT;
  • - TAND huyện Cao Lãnh;
  • - Chi cục THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Chí Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 219/2024/DS-PT ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 219/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Ngọc Nữ BĐ: Nguyễn Thanh Hữu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger