TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH Bản án số: 219/2025/HNGĐ-ST Ngày 19-11-2025 Về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung giữa chị Bùi Thị Trang và anh Trần Đăng Trung” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quỹ.
Ông Nguyễn Văn Thắng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án khu vực 7 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Quỳnh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 159/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh ngày: 11-11-1994; căn cước công dân số: [...]; nơi thường trú và cư trú: Số A đường L, phường N, tỉnh Ninh Bình; có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Trần Đăng T1, sinh ngày: 12-3-1995; căn cước công dân số: [...]; nơi thường trú và cư trú: Số A đường L, phường N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 18-9-2025, bản tự khai ngày 13-10-2025, nguyên đơn chị Bùi Thị T bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Đăng T1 tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn ngày 13-10-2015 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường N, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình
thường đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, tuy nhiên thời điểm đó con lớn còn nhỏ nên hai bên đã tự giải quyết mâu thuẫn. Đến năm 2024 mâu thuẫn vợ chồng chị tiếp tục phát sinh, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hoà hợp về tính cách nên thường xuyên xảy ra va chạm, cãi vã. Hai bên cũng đã nhiều lần nói chuyện để tìm cách khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả nên mâu thuẫn ngày càng căng thẳng trầm trọng, mặc dù vẫn sống chung một nhà nhưng vợ chồng đã ly thân với nhau từ cuối năm 2024 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn khắc phục được nữa nên chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Trần Đăng T1.
Về con chung: Chị và anh Trần Đăng T1 có 02 con chung là Trần Huyền M, sinh ngày 15-4-2017 và Trần Đăng Thái A, sinh ngày 28-12-2022. Hiện nay hai con chung đang sống cùng vợ chồng chị tại Số A đường L, phường N, tỉnh Ninh Bình. Chị đề nghị Tòa án giao cho vợ chồng mỗi người nuôi dưỡng một con chung, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Đăng Thái A vì cháu A còn nhỏ cần sự chăm sóc nhiều hơn của mẹ; còn cháu Trần Huyền M đề nghị giao cho anh Trung trực T2 chăm sóc, nuôi dưỡng và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung: Chị và anh T1 tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung về tài sản: Chị và anh T1 không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn là anh Trần Đăng T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh T1 không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên không có lời khai thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án.
3. Tại biên bản xác minh ngày 20-10-2025 tại phường N, tỉnh Ninh Bình cung cấp: Chị Bùi Thị T và anh Trần Đăng T1 có địa chỉ cư trú tại Số A đường L, phường N, tỉnh Ninh Bình. Chị T và anh T1 đăng ký kết hôn ngày 13-10-2015 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường N, tỉnh Ninh Bình). Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nhưng địa phương chưa phải hòa giải nên không nắm được mâu thuẫn cụ thể. Anh chị có hai con là Trần Huyền M, sinh ngày 15-4-2017 và Trần Đăng Thái A, sinh ngày 28-12-2022 hiện nay đang sinh sống cùng chị T và anh T1
4. Tại biên bản ghi nguyện vọng của con chung ngày 13-10-2025 cháu Trần Huyền M trình bày: Cháu là con mẹ Bùi Thị T và bố Trần Đăng T1, nay bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng ở với bố.
5. Tại phiên tòa:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Đăng T1.
Về con chung: Chị Bùi Thị T đề nghị Tòa án giao con chung là Trần Huyền M, sinh ngày 15-4-2017 cho anh Trần Đăng Trung trực T2 chăm sóc, nuôi dưỡng và giao con chung là Trần Đăng Thái A, sinh ngày 28-12-2022 cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
6. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Về việc giải quyết vụ án:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Bùi Thị T và anh Trần Đăng T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị T.
- - Về con chung: Căn cứ vào các quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao anh Trần Đăng Trung trực T2 nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung là Trần Huyền M, sinh ngày 15-4-2017; giao chị Bùi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung là Trần Đăng Thái A, sinh ngày 28-12-2022.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Về thẩm quyền giải quyết: Chị Bùi Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con chung với anh Trần Đăng T1, xét thấy tranh chấp giữa chị Bùi Thị T và anh Trần Đăng T1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Trần Đăng T1 thường trú và cư trú tại: Số A đường L, phường N, tỉnh Ninh Bình nên căn cứ Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố
tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 7- Ninh Bình.
1.2 Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn anh Trần Đăng T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Trần Đăng T1.
[2] Về nội dung vụ án:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Trần Đăng T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 13-10-2015 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường N, tỉnh Ninh Bình) nên là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hoà hợp về tính cách nên thường xuyên xảy ra va chạm. Theo chị T trình bày thì hai bên cũng đã có thời gian cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tạo điều kiện để vợ chồng khắc phục mâu thuẫn về chung sống đoàn tụ nhưng anh T1 không có mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa chị T vẫn giữ quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết ly hôn với anh T1 và giải quyết việc giao nuôi con chung.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T1 mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Trần Đăng T1.
2.2 Về con chung: Chị Bùi Thị T và anh Trần Đăng T1 có 02 con chung là Trần Huyền M, sinh ngày 15-4-2017 (giới tính: Nữ) và Trần Đăng Thái A, sinh ngày 28-12-2022 (giới tính: Nam).
Xét thấy việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cả vợ và chồng nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét các quy định của pháp luật và giao con chung căn cứ vào tình hình thực tế, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung. Cháu Trần Huyền M trình bày nguyện vọng muốn ở với bố là anh Trần Đăng T1. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Đăng Thái A vì còn nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình 2014 thì “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi...”. Vì vậy, giao cho chị Bùi Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Đăng Thái A và giao cho anh Trần Đăng Trung trực T2 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Huyền M
là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Bùi Thị T và anh Trần Đăng T1 mỗi người sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng một con chung nên hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
2.3 Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Bùi Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và không có nghĩa vụ chung về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV thì án phí trong vụ án sẽ được quyết định như sau:
Chị Bùi Thị T là nguyên đơn trong vụ án nên phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Trần Đăng T1.
2. Về con chung: Giao chị Bùi Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Đăng Thái A, sinh ngày 28-12-2022, số định danh cá nhân: 036222013542, giới tính: Nam. Giao anh Trần Đăng Trung trực T2 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Huyền M, sinh ngày 15-4-2017, số định danh cá nhân: 036317005065, giới tính: Nữ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị T và anh Trần Đăng T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Chị Bùi Thị T và anh Trần Đăng T1 vẫn có đầy đủ quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm
nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Bùi Thị T đã nộp tại biên lai số 0001424 ngày 08-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Chị Bùi Thị T đã nộp đủ án phí.
4. Quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị T có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Trần Đăng T1 có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Hà |
Bản án số 219/2025/HNGĐ-ST ngày 19/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 219/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
