|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 219/2025/DS-ST
Ngày 17-6-2025
"V/v Tranh chấp ranh đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Len
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Năm
Ông Hồ Quang Minh
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Nga Muội - Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời: Ông Trương Hoàng Lo – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16/6/2025 và ngày 17/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 271/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ranh đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 448/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Bà Mai Thị M, Sinh năm 1958.
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền bà M: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (có mặt)
-
- Bị đơn: Ông Võ Văn T1, Sinh năm 1953 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1984 (xin vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1986 (xin vắng mặt)
Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 (xin vắng mặt)
Anh Trần Văn P, sinh năm 1979 (xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Bà Nguyễn Thị Bạch T2, sinh năm 1952 (xin vắng mặt)
Anh Võ Văn D, sinh năm 1985 (xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1995 (xin vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1967 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau
Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Khóm F, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau
Chị Nguyễn Thúy H1 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc phần đất bà M đang quản lý sử dụng, giáp ranh với đất ông Võ Văn T1 là của ông nội ông tặng cho ông Nguyễn Tấn C (đã chết), sau đó ông C chuyển nhượng lại bằng giấy tay cha ông (ông Nguyễn Văn T3, đã chết) mẹ bà Mai Thị M, phần đất này hiện tại cha mẹ ông chưa được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T1 người giáp ranh lấn chiếm đất của cha mẹ ông theo đo đạc thực tế diện tích 630,9m², yêu cầu ông T1 phải trả lại phần đất lấn chiếm theo đo đạc thực tế diện tích 630,9m² đất ở ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Cha mẹ ông có ba người con Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Ngọc H và ông Nguyễn Văn T cùng ở ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Ông Nguyễn Tấn C có vợ Trần Thị Đ, con Nguyễn Thúy H1, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Văn P1.
Ông Võ Văn T1 trình bày:
Nguồn gốc phần đất ông đang quản lý sử dụng, giáp ranh với đất bà M là do nhà nước cấp năm 1978, hiện tại ông đang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguyên đơn yêu cầu ông trả đất tranh chấp theo đo đạc thực tế diện tích 630,9m² đất ở ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau không đồng ý. Hộ gia đình ông đang trực tiếp canh tác đất bao gồm ông và vợ Nguyễn Thị Bạch T2, con Võ Văn D.
Anh Nguyễn Văn P1 trình bày:
Phần đất hiện tại bà M đang quản lý sử dụng có tranh chấp ranh với ông Tiếng L2 cha mẹ anh ông Nguyễn Tấn C, bà Trần Thị Đ chuyển nhượng lại cho bà M năm nào không nhớ nhưng thời điểm chuyển nhượng có mặt anh, anh có ký vào giấy tờ chuyển nhượng đất hay không thì không nhớ, trong vụ án này anh không có yêu cầu gì và không có tranh chấp gì đối với bà M, đối với diện tích chuyển thì anh không biết chỉ có cha mẹ anh mới biết. Do điều kiện đi lại khó khăn anh đề nghị Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng vắng mặt anh, đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh ở các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm nếu có.
Anh Võ Văn D, bà Nguyễn Thị Bạch T2 cùng trình bày:
Anh thống nhất với ý kiến của ông T1 trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến khác, do điều kiện đi lại khó khăn, đề nghị Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng vắng mặt, đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ở các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm nếu có.
Chị Nguyễn Ngọc L, Chị Nguyễn Ngọc H, anh Trần Văn P trình bày:
Thống nhất với ý kiến của mẹ anh chị là bà M trong quá trình giải quyết vụ án. Do điều kiện đi lại khó khăn, chị đề nghị Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng vắng mặt chị, đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ở các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm nếu có.
Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát như sau:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay; các đương sự có mặt tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự vắng mặt không có lý do thì không thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị M đối với ông Võ Văn T1 về việc yêu cầu ông T1 trả phần đất tranh chấp tại thửa số 6 diện tích 630,9m² đất tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Chi phí tố tụng đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Án phí bà M là người cao tuổi được miễn theo quy định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định “Tranh chấp ranh đất”, phần đất tranh chấp tại ấp K, xã T, huyện T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vắng mặt đương sự: Bà Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Ngọc H, ông Trần Văn P, bà Nguyễn Thị Bạch T2, anh Võ Văn D, anh Nguyễn Văn P1 xin xét xử vắng mặt; Ông Võ Văn T1, bà Trần Thị Đ, chị Nguyễn Thị L3, chị Nguyễn Thúy H1 đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là đúng theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp: Theo nguyên đơn xác định nguồn gốc đất nguyên đơn đang quản lý, sử dụng là chuyển nhượng của ông Nguyễn Tấn C diện tích 11 công tầm lớn. Trong quá trình quản lý sử dụng đất bị đơn ông Võ Văn T1 đã lấn ranh đất nguyên đơn theo đo đạc thực tế thừa số 6 diện tích 630,9m². Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả phần đất đã lấn chiếm, bị đơn không đồng ý nên các bên xảy ra tranh chấp.
[3] Theo Bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 12/5/2025 của Công ty TNHH T5 tại Cà Mau thể hiện vị trí, kích thước phần đất tranh chấp với ông T1 có mốc giới M11M12M6M7 tại thừa số 6 có diện tích 630,9m² đất tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 02/8/2024 hiện trạng phần đất tranh chấp là đất ruộng ông T1 đang canh tác trồng lúa.
[4] Xét quá trình sử dụng đất của các bên thấy rằng, phần đất nguyên đơn đang quản lý, sử dụng là của ông Nguyễn Tấn C, bà Trần Thị Đ chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn T3, bà Mai Thị M diện tích 11 công tầm lớn (14.256m²) (thuộc một phần của thửa 94 và thửa 70 tờ bản đồ số 6, chỉnh lý năm 2021, phần đất thuộc thửa 94 do ông Nguyễn Tấn C kê khai, phần đất tại thửa số 70 do ông Nguyễn Văn G đứng tên quyền sử dụng đất) theo đo đạc thực tế diện tích đất của nguyên đơn đang quản lý, sử dụng tại thửa số 4 diện tích 7.363,8m² thửa số 7 diện tích 6.476m² và phần đất chưa thống nhất ranh với ông Huỳnh Văn T4 514,9m² tổng diện tích 14.354,7m².
[5] Đối với phần đất bị đơn đang quản lý, sử dụng, bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 79 tờ bản đồ số 01 diện tích 10.570m² theo đo đạc thực tế thửa số 1 diện tích 2.044,9m² và thửa số 5 diện tích 9.282,7m².
[6] Theo nguyên đơn xác định khi chuyển nhượng đất không đo đạc chỉ ghi 11 công tầm lớn, trong quá trình quản lý, sử dụng đất nguyên đơn không có đo đạc thực tế diện tích bao nhiêu, tuy nhiên khi chuyển nhượng đất thì đất của nguyên đơn thẳng ranh với đất của ông Nguyễn Bé H2 (con ruộng ông Nguyễn Văn G), hiện tại phần đất ông không thẳng ranh với đất của ông Nguyễn Bé H2, đối với phần đất ông T1 sau khi đo đạc thực tế nhiều hơn so với được cấp quyền sử dụng đất, nên nguyên đơn xác định bị đơn lấn ranh đất, yêu cầu bị đơn trả lại đất lấn chiếm.
Hội đồng xét xử thấy rằng phần đất nguyên đơn hiện đang quản lý sử dụng nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Tấn C, hiện tại bà M chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có một phần đất bà M đang canh tác nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông G, theo con ông G là ông Nguyễn Bé H2 xác định việc cha ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với một phần đất bà M đang canh tác thì ông không biết, ông xác định thời điểm cha ông còn sống sử dụng đất giáp ranh với đất ông C thì có bờ phân ranh riêng biệt, các bên không có tranh chấp.
Thấy rằng hiện tại phần đất nguyên đơn đang quản lý, sử dụng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó nguyên đươn không có các quyền chung của người sử dụng đất bao gồm các quyền được nhà nước bảo hộ khi người khác sâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp về đất đai của mình, mặt khác quá trình quản lý sử dụng các đương sự không đo đạc cậm mốc ranh, đó là lỗi của các bên trong quá trình sử dụng đất, nguyên đơn không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh bị đơn lấn ranh đất, do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ.
[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[8] Chi phi phí tố tụng: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên chi phí tố tụng nguyên đơn phải chịu toàn bộ 19.111.000 đồng (chi phí đo đạc 18.711.000 đồng, chi phí xem xét thẩm định 400.000 đồng, đã thực hiện xong).
Về án phí sơ thẩm: Án phí không có giá ngạch nguyên đơn được miễn do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật dân sự; Điều 235, 236 Luật đất đai năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị M đối với ông Võ Văn T1 về việc yêu cầu ông Võ Văn T1 trả phần đất tranh chấp tại thừa số 6 diện tích 630,9m² (mốc giới M11M12M6M7) đất tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
(Kèm theo Bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 12/5/2025 của Chi nhánh Công ty TNHH T5 tại Cà Mau)
Chi phí tố tụng: Buộc bà Mai Thị M phải chịu chi phí tố tụng 19.111.000 đồng (chi phí đo đạc 18.711.000 đồng, chi phí xem xét thẩm định 400.000 đồng, đã thực hiện xong).
Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Bà Mai Thị M được miễn do là người cao tuổi.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo luật định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Len |
Bản án số 219/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ranh đất
- Số bản án: 219/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Mai Thị Mận yêu cầu ông Võ Văn Tiến trả đất lấn chiếm
