|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 219 /2024/HSST Ngày: 16 - 12 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Du
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Như Hạnh
Ông Lê Đình Ty
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Lương Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 234/2024/HSST ngày 26/11/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Đỗ Hữu H, Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không có.
Sinh ngày 17 tháng 8 năm 1985, tại huyện T, Thanh Hóa
Nguyên quán: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa
Nơi thường trú: Thôn Công Thương, xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không Số Thẻ CCCD:[...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12.
Con ông: Đỗ Hữu H1, SN 1957; Con bà: Lê Thị N, SN 1958. Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình 04 anh chị em; Vợ: Ngô Thị H2, SN 1993. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 07/12/2009 bị công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/XP, hình phạt tiền 1.000.000đ về hành vi đánh bạc. Đã chấp hành nộp phạt ngày 10/12/2009.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2024, đến ngày 21/8/2024 chuyển tạm giam. Ngày 07/9/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.
2.Họ tên: Trần Xuân L, Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không có
Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1969, tại huyện T, Thanh Hóa
Nguyên quán: huyện T, tỉnh Thanh Hóa
Nơi thường trú: Khu phố 2, thị trấn Thường Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không Số Thẻ CCCD:[...]. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 03/12.
Con ông: Trần Xuân H3, SN 1933( Đã chết); Con bà: Lê Thị O, SN 1933( Đã chết). Bị cáo là con thứ 4 trong gia đình 07 anh chị em. Vợ: Hà Thị H4, SN 1977. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2007.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 05/6/2014, bị TAND huyện Thường Xuân phạt tiền 22.000.000đ về tội đánh bạc. Chấp hành xong ngày 05/6/2014.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2024, đến ngày 21/8/2024 chuyển tạm giam. Ngày 07/9/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.
3. Họ tên: Đỗ Văn B, Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không có.
Sinh ngày 07 tháng 6 năm 1976, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa
Nguyên quán: huyện H, tỉnh Thanh Hóa
Nơi thường trú: Khu phố 1, thị trấn Thường Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số Thẻ CCCD:[...]; Là Đảng viên ĐCSVN đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng.
Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa 9/12. Con ông: Đỗ Văn B1, SN 1942 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H5, SN 1946 (đã chết) Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình 05 anh chị em. Vợ: Cầm Thị H6, SN 1977. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2001.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2024, đến ngày 17/8/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo đang tại ngoại - Có mặt tại phiên toà
4. Họ tên: Lê Xuân H7, Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không có.
Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1983, tại huyện T, Thanh Hóa
Nguyên quán: huyện T, tỉnh Thanh Hóa
Nơi thường trú: Thôn Hòa Lâm, xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không Số Thẻ CCCD:[...].Là Đảng viên ĐCSVN đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng.
Trình độ văn hóa 12/12. Nghề nghiệp trước khi bị bắt: Công an xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Đã bị tước quân tịch. Con ông: Lê Công T, SN 1956; Con bà: Lê Thị L1, SN 1960. Vợ: Lê Thị L2, SN 1984. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2024, đến ngày 17/8/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 00 giờ 20 phút, ngày 12/8/2024, Tổ công tác của Công an huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Xuân L sinh năm 1969, trú tại khu phố B, thị trấn T, huyện T; Đỗ Hữu H sinh năm 1985, trú tại khu phố C, thị trấn T, huyện T; Đỗ Văn Bình S năm 1976, trú tại khu phố A, thị trấn T, huyện T và Lê Xuân H7, sinh năm 1983, trú tại thôn H, xã N, huyện T đang đánh bạc bằng hình thức đánh thắng thua bằng tiền Việt nam đồng tại nhà Nguyễn Đình N1 sinh năm 1985, trú tại khu phố D, thị trấn T, huyện T. Thu giữ tại khu vực đánh bạc 02 bộ bài T1 lơ khơ, 04 điện thoại di động của 04 đối tượng, 01 chiếu nhựa và 26.430.000đ (hai mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng), trong đó: Số tiền thu tại chiếu bạc là 16.290.000đ (mười sáu triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng); Số tiền sử dụng vào việc đánh bạc thu trên người Đỗ Văn B là 7.090.000đ (bảy triệu không trăm chín mươi nghìn đồng); Số tiền sử dụng vào việc đánh bạc thu trong ví của Đỗ Hữu H là 3.050.000đ (ba triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã điều tra làm rõ (Bút lục 1-5).
Vào chiều ngày 11/8/2024, anh Nguyễn Đình N1 làm lễ cúng rằm tháng 7 theo phong tục nên mời 04 người đến nhà tổ chức ăn uống gồm: Trần Xuân L; Đỗ Hữu H; Đỗ Văn B và Lê Xuân H7. Đến khoảng 20h30' cùng ngày, khi mọi người ăn uống xong thì anh N1 đứng lên dọn dẹp, rửa bát, còn L, H, B và H7 ngồi uống nước chè tại chiếu vừa ăn cơm tại bếp. Trong khi uống nước, nói chuyện, L, H, B và H7 cùng rủ nhau đánh bạc, H7 nhìn thấy có 02 bộ bài T1 lơ khơ để sẵn trên bàn bếp nên lấy xuống chiếu rồi cùng thống nhất chơi đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm thắng thua bằng tiền, quy ước là: Nếu có người không còn bài trên tay (ù) thì thắng 03 người chơi còn lại, mỗi người phải đưa cho người thắng 300.000đ. Nếu không có người ù, thì khi hết bài nọc (bài chưa được chia) người có số điểm bài còn lại trên tay thấp nhất sẽ thắng, người có điểm thấp thứ 2, 3, 4 phải đưa cho người thắng với số tiền lần lượt là 50.000đ, 100.000đ, 150.000đ. Trước khi đánh bạc, Lưu mang theo số tiền 1.800.000đ, H mang theo 5.200.000đ trên người và lấy thêm 9.000.000đ để ở xe của H; B mang theo 8.000.000đ; H7 mang theo 2.400.000đ. Quá trình đánh bạc, các đối tượng sử dụng 02 bộ bài có sẵn để thay đổi luân phiên, vị trí ngồi tính từ vị trí của Trần Xuân L (quay lưng về phía tường giáp với gara để xe ô tô của nhà anh N1) từ trái qua phải lần lượt là L - H - B - H7, sau đó H7 và H có đổi chỗ cho nhau 01 lần. Sau khi dọn dẹp, rửa bát đũa, anh N1 đi ngủ, các đối tượng tiếp tục đánh bạc tại bếp ăn nhà anh N1 (201-215; 238-247; 268-276; 287-311; 358-369).
Đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 12/8/2024, khi L, H, B và H7 đang đánh bạc thì bị Tổ công tác của Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại khu vực đánh bạc 02 bộ bài T1 lơ khơ, 04 điện thoại di động của 04 đối tượng, 01 chiếu nhựa và 26.430.000đ (hai mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng), trong đó: Số tiền thu tại chiếu bạc là 16.290.000đ (mười sáu triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng); Số tiền sử dụng vào việc đánh bạc thu trên người Đỗ Văn B là 7.090.000đ (bảy triệu không trăm chín mươi nghìn đồng); Số tiền sử dụng vào việc đánh bạc thu trong ví của Đỗ Hữu H là 3.050.000đ (ba triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý:
- Quá trình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các đồ vật, tài sản sau: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài từ A đến K, mặt sau mỗi quân bài là hoa văn màu đỏ, bài cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài từ A đến K, mặt sau mỗi quân bài là hoa văn màu xanh, bài cũ, đã qua sử dụng (có biên bản niêm phong kèm theo); 01 (một) chiếc chiếu nhựa màu xanh, hình chữ nhật kích thước (dài x rộng) tương ứng là (3,4 mét x 1,75 mét), chiếu cũ, đã qua sử dụng.
- Thu giữ, tạm giữ của Đỗ Hữu H: Tiền mặt trên chiếu: 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn đồng); Tiền mặt trong ví: 3.050.000 đồng (ba triệu không trăm năm mươi nghìn đồng); 01 (một) ví da màu đen, cũ, đã qua sử dụng, bên trong ví chứa các giấy tờ tuỳ thân đứng tên Đỗ Hữu H; 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu OPPO A77 màu đen, Imei 1 867257069355913; Imei 2 867257069355905, gắn sim số 0964885567 và sim số 0886987020.
- Thu giữ, tạm giữ của Đỗ Văn B: Tiền trước mặt (dắt dưới chân), tại vị trí ngồi là 1.000.000 đồng (một triệu đồng); T2 trong túi quần phía sau, bên phải là 7.090.000 đồng (bảy triệu không trăm chín mươi nghìn đồng); T2 dưới chiếu, phía sau lưng (anh B ngồi đè lên trên) là 10.700.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 màu đen, I; Imei 2 3537916649005343, gắn sim số 0904166222.
- Thu giữ, tạm giữ của Lê Xuân H7: 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone Xsmax màu vàng (gold) Imei 357328097977411; Imei (phụ) 357328097865525, gắn sim số 0977226779 và sim số 0988960000.
- Thu giữ, tạm giữ của Trần Xuân L: Tiền trước mặt (dắt dưới chân) là 990.000đ (chín trăm chín mươi nghìn đồng); tiền dắt dưới chiếu, tại chỗ ngồi của L là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G có số Imei 1: 354505628505182; Imei 2: 359131208505180, gắn sim số 0948421665, điện thoại đã qua sử dụng.
Ngày 12/8/2024, anh Nguyễn Đình N1 giao nộp 01 đầu thu Camera nhãn hiệu Dahua Technology, màu đen, có kích thước 19,5 x 18cm x 3,7cm.
Kết luận giám định:
- Ngày 04/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T có Quyết định trưng cầu giám định số tiền 26.430.000đ (hai mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng) thu giữ trong vụ án đánh bạc là thật hay giả. Ngày 11/10/2024 Phòng K Công an tỉnh T có Kết luận giám định số 3833/KL-KTHS xác định toàn bộ các tờ tiền thu giữ được (tổng 26.430.000đ) là tiền thật (bút lục 183-184).
- Ngày 04/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T có Quyết định trưng cầu giám định trích xuất hình ảnh trong đầu thu Camera do anh N1 giao nộp; trích xuất các tin nhắn, lịch sử cuộc gọi được lưu trong 04 điện thoại di động của 04 đối tượng, kết luận giám định phù hợp với việc liên lạc giữa các đối tượng. Trong đầu thu Camera không phát hiện các video hình ảnh vụ đánh bạc; dữ liệu trích xuất điện thoại và camera không phát hiện có dữ liệu liên quan đến hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật của bất kỳ ai (Bút lục 186-193; 194-196).
Tại phiên toà:
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hóa đối với các bị cáo; đồng thời đánh giá các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ Luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng, các bị cáo thật sự ăn năn hối cải. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, không có bị cáo nào là người khởi sướng mà tất cả đều cùng thực hiện, hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, số tiền tham gia đánh bạc của các bị cáo, xem xét áp dụng hình phạt tù, nhưng cho hưởng án treo đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo H và bị cáo L, xem xét áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cho bị cáo B và bị cáo H7. Đề nghị HĐXX như sau:
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, Điều 17, Điều 58, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Hữu H.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 32; Điều 17, Điều 58, điểm s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Xuân L.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 58, điểm i, s khoản 1 (bị cáo Lê Xuân H7 được hưởng thêm điểm v khoản 1 Điều 51) và khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đỗ Văn B, Lê Xuân H7
Tuyên bố các bị cáo Trần Xuân L; Đỗ Hữu H; Đỗ Văn B và Lê Xuân H7 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Hữu H từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Áp dụng Phạt bổ sung đối với bị cáo H từ 10 đến 15 triệu đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Trần Xuân L từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Áp dụng Phạt bổ sung đối với bị cáo L từ 10 đến 15 triệu đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo Đỗ Văn B và Lê Xuân H7; Bị cáo Đỗ Văn B từ 40 triệu đến 50 triệu đồng. Bị cáo Lê Xuân H7 từ 30 triệu đến 40 triệu đồng.
* Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu số tiền các bị cáo do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước gồm: Số tiền 26.430.000đ (hai mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng) đang được niêm phong dán kín gửi tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
- Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng : 01 (một) chiếc chiếu nhựa cũ, đã qua sử dụng màu xanh, hình chữ nhật kích thước (dài x rộng) tương ứng là (3,4 mét x 1,75 mét); 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài từ A đến K, mặt sau mỗi quân bài là hoa văn màu đỏ, bài cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài từ A đến K, mặt sau mỗi quân bài là hoa văn màu xanh, bài cũ, đã qua sử dụng
Tranh luận:
Các bị cáo thừa nhận về hành vi, tội danh như Cáo trạng của viện kiểm sát đã truy tố, đồng ý toàn bộ về mức đề nghị điều khoản và hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất và không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng:
Các bị cáo rất ân hận về việc phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện hoàn cảnh bản thân và gia đình để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với các với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra, đủ căn cứ và cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận như sau:
Vào chiều ngày 11/8/2024, anh Nguyễn Đình N1 trú tại khu phố D, thị trấn T, huyện T làm lễ cúng rằm tháng 7 theo phong tục nên mời 04 người đến nhà tổ chức ăn cơm uống rượu gồm: Trần Xuân L; Đỗ Hữu H; Đỗ Văn B và Lê Xuân H7. Đến khoảng 20h30' cùng ngày, khi mọi người ăn uống xong thì anh N1 đứng lên dọn dẹp, rửa bát, còn L, H, B và H7 ngồi uống nước chè tại chiếu vừa ăn cơm tại bếp. Trong khi uống nước, nói chuyện, L, H, B và H7 cùng rủ nhau đánh bạc, H7 nhìn thấy có 02 bộ bài T1 lơ khơ để sẵn trên bàn bếp nên lấy xuống chiếu rồi cùng thống nhất chơi đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm thắng thua bằng tiền.
Đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 12/8/2024, khi L, H, B và H7 đang đánh bạc thì bị Tổ công tác của Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại khu vực đánh bạc 02 bộ bài T1 lơ khơ, 04 điện thoại di động của 04 đối tượng, 01 chiếu nhựa và 26.430.000đ (hai mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng), trong đó: Số tiền thu tại chiếu bạc là 16.290.000đ (mười sáu triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng); Số tiền sử dụng vào việc đánh bạc thu trên người Đỗ Văn B là 7.090.000đ (bảy triệu không trăm chín mươi nghìn đồng); Số tiền sử dụng vào việc đánh bạc thu trong ví của Đỗ Hữu H là 3.050.000đ (ba triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng tới cuộc đấu tranh phòng chống tệ nạn cờ bạc trong xã hội ; Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì ham vui nhất thời, đã cũng nhau đánh bài ăn tiền với tổng số tiền dùng vào đánh bạc trái phép là 26.430.000đ (hai mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng), các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với lỗi cố ý, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình đã gây ra. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Xét tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo thấy: Quá trình thực hiện hành vi đánh bạc, các bị cáo đã khai rõ về số tiền dùng để đánh bạc như sau: Trước khi đánh bạc, Lưu mang theo số tiền 1.800.000đ, H mang theo 5.200.000đ trên người và lấy thêm 9.000.000đ để ở xe của H; B mang theo 8.000.000đ; H7 mang theo 2.400.000đ. quá trình bắt giữ quả tang, thu giữ tại chiếu bạc và thu trên người các bị cáo với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 26.430.000đ đồng. Do vậy cần xác định và buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự chung về số tiền đánh bạc đã bị thu giữ là 26.430.000đ đồng là phù hợp.
[5] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Tất cả các bị cáo đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (trừ bị cáo Trần Xuân L). Bị cáo H có đóng góp ủng hộ quỹ vì người nghèo, có xác nhận của UBND xã V, huyện T. Bị cáo Trần Xuân L có bố là Trần Xuân H3 là thương binh hạng 2/4; bị cáo có nhiều ủng hộ, đóng góp cho xã hội tại địa phương. Bị cáo Đỗ Văn B có bố là Đỗ Văn B1 được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhì, có mẹ là Nguyễn Thị H5 được tặng huân chương kháng chiến hạng nhất; Bị cáo có nhiều ủng hộ, đóng góp cho xã hội tại địa phương, ủng hỗ quỹ vì người nghèo vào các năm 2022,2023,2024 mỗi năm 10 triệu đồng cóThư cảm ơn của UBMTTQ Việt Nam huyện T cảm ơn vì có nhiều đóngng góp cho quỹ người nghèo, chung tay xây dựng nhà cho hộ nghèo trên địa bàn huyện. Đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng cho các bị cáo Đỗ Hữu H, Đỗ Văn B, Lê Xuân H7. Bị cáo Trần Xuân L được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Lê Xuân H7 có thành tích xuất sắc trong công tác, được Chủ tịch nước tặng huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất năm 2023, hạng nhì năm 2020, hạng ba năm 2010. Bị cáo Trần Xuân L (Giám đốc Công ty TNHH T3) có thành tích xuất sắc trong sản xuất kinh doanh được UBND huyện T tặng giấy khen,được UBND huyện Thường xuân Ghi nhận tấm lòng vàng vì có nhiều đóng góp cho quỹ chất độc màu da cam, có tấm lòng nhân ái giúp đỡ nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam của huyện T, Thư cảm ơn của UBMTTQ Việt Nam huyện T cảm ơn vì có nhiều đóng góp cho quỹ người nghèo, chung tay xây dựng nhà cho hộ nghèo trên địa bàn huyện. Nên xem xét cho hai bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6]. Về vai trò và quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo vì ham vui nên nhất thời phạm tội, không ai là người khởi xướng, đề xuất việc đánh bạc, các bị cáo đều tham gia ngay từ đầu cho đến khi bị bắt quả tang nên các bị cáo đều có vai trò là người thực hành. Để quyết định hình phạt cho phù hợp cần xem xét vị trí, vai trò, nhân thân của từng bị cáo:
Đối với bị cáo H sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất, đã bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc năm 2009 bị cáo đã chấp hành nộp phạt và thuộc trường hợp không coi là có tiền sự, bị cáo L sử dụng số tiền đánh bạc ít nhất, nhưng nhân thân năm 2014 đãbị TAND huyện Thường Xuân phạt tiền 22.000.000đ về tội đánh bạc. Chấp hành xong ngày 05/6/2014, nên thuộc trường hợp không coi là có án tích. Xét thấy, bị cáo L đã bị kết án về tội ít nghiêm trọng đã được xoá án tích, bị cáo H đã được xoá tiền sự, hai bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, nhất thời phạm tội, có xác nhận của chính quyền địa phương cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Vì vậy, căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán,Toà án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly hai bị cáo ra khởi đời sống xã hội, mà cho hai bị cáo được cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ Luật hình sự, đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với hai bị cáo, cũng phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, để hai bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo trở thành công dân tốt.
Các bị cáo Đỗ Văn B, Lê Xuân H7 đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự như nêu trên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự , HĐXX xem xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội thấy rằng áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và đảm bảo phòng ngừa chung trong xã hội.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đỗ Hữu H và Trần Xuân L.
[8]. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Tịch thu số tiền các bị cáo dùng đánh bạc sung quỹ Nhà nước gồm: Số tiền 26.430.000đ (hai mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng) đang được niêm phong gửi tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa
- Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không có giá trị sử dụng : 01 (một) chiếc chiếu nhựa cũ, đã qua sử dụng màu xanh, hình chữ nhật kích thước (dài x rộng) tương ứng là (3,4 mét x 1,75 mét); 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài từ A đến K, mặt sau mỗi quân bài là hoa văn màu đỏ, bài cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài từ A đến K, mặt sau mỗi quân bài là hoa văn màu xanh, bài cũ, đã qua sử dụng.
Đối với các vật chứng thu giữ của các bị cáo ngoài số tiền dùng đánh bạc, tại phiên toà các bị cáo đã khai rõ là nhận lại các tài sản được Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T các Quyết định xử lý đồ vật, tài sản gồm: Trả lại đầu thu Camera nhãn hiệu Dahua Technology, màu đen, có kích thước 19,5 x 18cm x 3,7cm cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Đình N1; Trả lại 01 (một) ví da màu đen, cũ, đã qua sử dụng, bên trong ví chứa các giấy tờ tuỳ thân và 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu OPPO A77 màu đen, Imei 1 867257069355913; Imei 2 867257069355905, gắn sim số 0964885567 và sim số 0886987020 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đỗ Hữu H; Trả lại 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 màu đen, I; Imei 2 3537916649005343, gắn sim số 0904166222 cho anh Đỗ Văn B; Trả lại 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra 5G có số Imei 1: 354505628505182; Imei 2: 359131208505180, gắn sim số 0948421665 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Trần Xuân L; Trả lại 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone Xsmax màu vàng (gold) Imei 357328097977411; Imei (phụ) 357328097865525, gắn sim số 0977226779 và sim số 0988960000 cho ông Lê Xuân H7. Quyết định trả lại các vật chứng trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật .
[9]. Các tình tiết khác: Trong vụ án này, anh Nguyễn Văn N2 không biết các bị cáo đánh bài được thua bằng tiền tại nhà ở của mình, vì ăn uống xong thì anh N2 dọn dẹp, xong thì anh N2 đi ngủ nghĩ là bạn bè uống rượu xong ngồi chơi cho vui nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T không xử lý là phù hợp.
[10] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 BLTTHS 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Điều luật áp dụng và Tội danh:
1.1. Điều luật:
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, Điều 17, Điều 58, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Hữu H.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 32; Điều 17, Điều 58, điểm s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Xuân L.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 58, điểm i, s khoản 1 (bị cáo Lê Xuân H7 được hưởng thêm điểm v khoản 1 Điều 51) và khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đỗ Văn B, Lê Xuân H7
1.2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Xuân L; Đỗ Hữu H; Đỗ Văn B và Lê Xuân H7 phạm tội “Đánh bạc”
[2]. Về hình phạt chính:
2.1. Xử phạt bị cáo Đỗ Hữu H: 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/12/2024).
2.2. Xử phạt bị cáo Trần Xuân L: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/12/2024).
2.3. Giao các bị cáo Đỗ Hữu H cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Giao các bị cáo Trần Xuân L cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.4. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn B: 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo phải nộp tiền phạt một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2.5. Xử phạt bị cáo Lê Xuân H7: 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo phải nộp tiền phạt một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[3].Về hình phạt bổ sung:
Xử phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Hữu H: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo phải nộp tiền phạt một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Xử phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Xuân L: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo phải nộp tiền phạt một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[4]. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015;
4.1.Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền do các bị cáo dùng phạm tội là: Số tiền 26.430.000đ (hai mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng) đang được niêm phong dán kín gửi tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
4.2.Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng : 01 (một) chiếc chiếu nhựa cũ, đã qua sử dụng màu xanh, hình chữ nhật kích thước (dài x rộng) tương ứng là (3,4 mét x 1,75 mét); 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài từ A đến K, mặt sau mỗi quân bài là hoa văn màu đỏ, bài cũ, đã qua sử dụng và 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài từ A đến K, mặt sau mỗi quân bài là hoa văn màu xanh, bài cũ, đã qua sử dụng
Các vật chứng nêu trên được niêm phong dán kín và được mô tả như trong Biên bản giao, nhận vật chứng số: 32/2025/TV- CTHADS ngày 10/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T và Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hoá.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các Bị cáo Trần Xuân L; Đỗ Hữu H; Đỗ Văn B và Lê Xuân H7 mỗi bị cáo phải chịu: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
[6]. Quyền kháng cáo: Các Bị cáo Trần Xuân L; Đỗ Hữu H; Đỗ Văn B và Lê Xuân H7 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (16/12/2024).
“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Trường Du |
Bản án số 219/2024/HSST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 219/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
