Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 219/2024/DS-PT

Ngày: 09 - 5 - 2024

V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản,

yêu cầu hủy GCNQSD đất, yêu cầu

hủy các hợp đồng chuyển nhượng, tặng

cho quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Duy Nhiệm;
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Mai;
Bà Hoàng Thị Bích Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hải An - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Văn Hữu - Kiểm sát viên cao cấp.

Trong các ngày 06 và 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 66/2024/TLPT-DS, ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu hủy GCNQSD đất, yêu cầu hủy các hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4837/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1967, có mặt;

Địa chỉ: Số nhà B, tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Văn T, Luật sư Văn phòng L4, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.

* Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1960, vắng mặt ngày 06/5/2024, có mặt ngày 09/5/2024; địa chỉ: Số A Tổ G, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phạm Thị Q, sinh năm 1957, địa chỉ: Xóm L, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, vắng mặt;

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Q: Bà Phạm Thị L, có mặt.

  2. Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
  3. Bà Phạm Thị L2, sinh năm 1968, địa chỉ: Tổ I, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
  4. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1970, địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
  5. Ông Phạm Hùng R (Phạm Văn R1), sinh năm 1973; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố P, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định, vắng mặt;

    Nơi ở hiện nay (tạm trú): Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

  6. Bà Phạm Thị T2, sinh năm 1976, địa chỉ: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
  7. Bà Lương Thị C, sinh năm 1961, vắng mặt;
  8. Chị Phạm Thị T3, sinh năm 1988, vắng mặt
  9. Anh Phạm Văn V, sinh năm 1991, vắng mặt;

    Người đại diện theo ủy quyền của chị T3, anh V: Bà Lương Thị C, vắng mặt;

    Đều có địa chỉ tại: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

  10. Anh Phạm Văn V1, sinh năm 1990, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

    Nơi đăng ký HKTT: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

    Nơi ở hiện nay: Công ty T8, địa chỉ: Nhà số C, ngõ D, đường A, thôn H, xã Đ, tỉnh Đài Bắc, thành phố Đ, lãnh thổ Đài Loan.

    Người đại diện theo ủy quyền của anh V1: Bà Phạm Thị H, vắng mặt.

  11. Ông Tô Xuân S, sinh năm 1961, địa chỉ: Số nhà B, tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, có mặt.
  12. Ông Nguyễn Đức S1, sinh năm 1968, địa chỉ: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Đức S1: Bà Phạm Thị T2, vắng mặt.

  13. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B;

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Thanh O, chức vụ: Giám Đốc;

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn M, chức vụ: Phó Giám đốc, có mặt.

  14. Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông tỉnh Bắc Kạn.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn S2, chức vụ: Chánh văn phòng Ban Q3, có mặt.

  15. Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Tạ Thị Lan A, chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  16. Văn phòng Công chứng Lê Thanh

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Lê T4 - Trưởng Văn phòng, vắng mặt.

  17. Ông Nguyễn Lê T4, địa chỉ: Tổ D, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
  18. Phòng C3 tỉnh Bắc Kạn.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Thị C1, chức vụ: Công chứng viên của Phòng C3, vắng mặt.

  19. Bà Nguyễn Thị Thúy H1; địa chỉ: Văn phòng C4, tổ dân phố số B, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.

* Người kháng cáo: Bà Phạm Thị L và ông Tô Xuân S, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo yêu cầu khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phạm Thị L trình bày:

Thửa đất số 1691, tờ bản đồ số 1, diện tích 9.016m² địa chỉ tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận QSD đất số CU 775650 ngày 15 tháng 9 năm 2020 cho bà Phạm Thị H.

Thửa đất trên gồm có 3 phần: Phần đất bà L được cụ Phùng Thị T5 (mẹ đẻ) tặng cho năm 1987; Phần đất do vợ chồng bà L tự khai phá và phần đất còn lại là di sản thừa kế của cụ Phùng Thị T5 để lại.

Năm 1982 cụ Phạm Văn Q1 chết, ngày 02/4/2020 cụ Phùng Thị T5 chết. Cụ Q1 và cụ T5 có 09 con đẻ, không có con nuôi gồm: Phạm Thị L, Phạm Thị H, Phạm Thị Q, Phạm Văn Q2, Phạm Thị L2, Phạm Thị T2, Phạm Thị T1, Phạm Văn R2, Phạm Thị L1. Năm 1997 ông Phạm Văn Q2 chết. Ông Q2 có vợ là bà Lương Thị C, ông Q2 và bà C có 03 con đẻ, không có con nuôi gồm: Phạm Thị T3, Phạm Văn V1 và Phạm Văn V.

Về nguồn gốc quá trình quản lý sử dụng đất:

Năm 1980, cụ Phạm Văn Q1 và cụ Phùng Thị T5 khai phá được một khu đồi có diện tích khoảng 10.000m² tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Năm 1987 bà kết hôn với ông Tô Xuân S nên cụ T5 chia cho vợ chồng bà một phần đất trên để ra ở riêng. Sau khi được cụ T5 chia đất, vợ chồng bà đã san nền, làm nhà, làm công trình phụ, trồng hoa màu, trồng chè và trồng tre trên đất, việc cho đất không có văn bản, giấy tờ, không họp gia đình, không có người làm chứng nhưng những người dân sinh sống lâu năm tại thôn Q, thôn N đều biết việc cho đất trên.

Đối với phần đất khai phá: Do phần đất được cụ T5 tặng cho có diện tích ít, không đủ canh tác nên năm 1987 vợ chồng bà đã tự khai phá thêm khoảng 1.000m² nữa để trồng chè, hoa màu và trồng tre. Khi bà khai phá có những người dân ở thôn Q, thôn N cũng biết.

Năm 1994 vợ chồng bà chuyển ra sinh sống tại Tổ A, phường N, thành phố B, không có điều kiện canh tác sử dụng đất nữa nên phần đất tặng cho bà giao lại em trai ruột là ông Phạm Văn Q2 trông coi hộ (việc nhờ trông coi không có văn bản giấy tờ), còn phần đất vợ chồng bà khai phá trên đất có chè, bà cho ông Bùi Văn T6, địa chỉ: Thôn Q, xã D, Thành phố B tiếp tục hái chè và trông nom đất giúp bà. Khoảng năm 2012, ông Phạm Hùng R3 (em trai bà) trồng cây si trên đất, khi trồng cây ông R3 không hỏi ý kiến bà, nhưng bà vẫn biết và không có ý kiến gì.

Đối với phần đất là di sản thừa kế: Từ khi khai phá (năm 1980) cho đến khi cụ Q1 chết, thì toàn bộ diện tích đất do cụ Q1, cụ T5 quản lý sử dụng, sau khi cụ Q1 chết thì do một mình cụ T5 quản lý, sử dụng. Khoảng năm 2012 bà Phạm Thị T2 (em gái bà) tự ý trồng mỡ lên toàn bộ phần đất tranh chấp đồng thời kê khai cấp GCNQSD đất mang tên Phạm Thị T2 và Nguyễn Đức S1 (chồng bà T2). Khi đó bà cũng biết nhưng bà không có ý kiến gì vì nghĩ đó là đất của Lâm trường. Sau đó bà T2 chuyển toàn bộ phần đất trên sang cho cụ T5. Khoảng năm 2018 hoặc 2019, cụ T5 lại chuyển nhượng cho cháu nội là anh Phạm Văn V1, sau đó anh Phạm Văn V1 chuyển nhượng cho bà Phạm Thị H; ngày 15/9/2020 bà Phạm Thị H được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSD đất số CU 775650 đối với thửa đất số 1691, tờ bản đồ số 1, diện tích 9.016m². Tất cả các thủ tục chuyển nhượng đều do cụ T5, bà H và anh V1 tự ý bàn bạc thực hiện không thông qua ai và các thủ tục trên đều do bà H giả mạo chữ ký của anh V1 để ký các giao dịch, vì thời điểm năm 2018 đến 2020 anh V1 đang đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài không có mặt tại Việt Nam nên không thể ký các giao dịch trên.

Năm 2022 Nhà nước thu hồi một phần đất để thực hiện công trình đường giao thông Bắc Kạn - Hồ Ba B, bà H đã đứng ra kê khai và nhận toàn bộ tiền bồi thường về đất và tài sản trên đất. Việc bà H được cấp GCNQSD đất thửa đất tranh chấp số 1691, tờ bản đồ số 1, diện tích 9.016m² và nhận toàn bộ số tiền bồi thường là không đúng các quy định của pháp luật.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá xác định: Diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 1691, tờ bản đồ số 1 đã được cấp GCNQSD đất cho bà Phạm Thị H là 8.215,1m² và 4.839,1m² nằm ngoài thửa đất số 1691. Trong 8.215,1m² có 268,9m² là phần đất tặng cho (đã bị thu hồi toàn bộ) có giá trị là 268,9m² x 25.000/m² = 6.722.500 đồng; 2.690,4m² là di sản thừa kế trong đó 394,3m²đã bị thu hồi có giá trị là 394,3m² x 25.000/m² = 9.857.500 đồng (1suất thừa kế theo luật là 9.857.500 đồng/9 =1.095.000₫); 2.296,1m² chưa bị thu hồi, trên phần đất này có ngôi mộ của cụ Phạm Văn Q1 phần đất mộ xác định là 156m², phần đất là di sản thừa kế của cụ T5 còn lại phải chia là 2.140,1m² (2.296,1m² - 156m²) (1 suất thừa kế theo luật là 2.140,1 m²/9 = 237,8m², chiều rộng mặt đường 3,91m ); 5.255, 8m² là phần đất do bà và ông S1 khai phá trong đó có 2.182,5m² đã bị thu hồi có giá trị là: 2.182,5 m² x 25.000/m² = 54.562.500₫ và 3.073,3m² chưa bị thu hồi.

Do vậy bà khởi kiện yêu cầu các nội dung như sau:

  • Yêu cầu hủy một phần Quyết định số 1652/QĐ-UBND ngày 12/02/2008 về việc phê duyệt, giao đất và cấp GCNQSD đất lâm nghiệp cho 600 hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại xã D và Hủy GCNQSD đất số AP 499527 ngày 15/6/2009 của UBND thị xã B (nay là thành phố B) cấp cho hộ ông Nguyễn Đức S1 và bà Phạm Thị T2 đối với phần đất có diện tích 8.215,1m² thuộc thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B.
  • Yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho ông Nguyễn Đức S1 và bà Phạm Thị T2, bên được tặng cho bà Phùng Thị T5 đối với phần đất bà L cho rằng bà L được tặng cho (268.9m²), phần đất khai phá 5.525,8m²(2.182.5m² + 3.073.3m²) thuộc thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B là vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý.
  • Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng ủy quyền ngày 29/3/2019 giữa bên ủy quyền Phạm Văn V1 và bên nhận ủy quyền Phạm Thị H; số công chứng 380, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD của Phòng C3 là vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý.
  • >
  • Yêu cầu tuyên Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 01/4/2019 giữa bên tặng cho Phùng Thị T5 và bên nhận tặng cho Phạm Văn V1; Số công chứng 381; quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD của Phòng C3 đối với phần đất tặng cho (268,9m²), khai phá 5.525,8m² (2.182,5m² + 3.073,3m²) thuộc thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B là vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý.
  • Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2020 giữa bên chuyển nhượng Phạm Văn V1 và bên nhận chuyển nhượng Phạm Thị H; Số công chứng: 1380; quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C5 đối với phần đất 8.215,1m² thuộc thửa đất số 1691, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B là vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý.
  • Hủy phần đăng ký biến động của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố B tại trang 4 GCNQSD đất số AP 499527 ngày 15/6/2009 của UBND thị xã B (nay là thành phố B) cấp cho hộ ông Nguyễn Đức S1 và bà Phạm Thị T2 đối với phần đất tặng cho có diện tích 268.9m², và phần đất khai phá có tổng diện tích 5.525,8m² theo đăng ký biến động từ ông Nguyễn Đức S1, bà Phạm Thị T2 cho bà Phùng Thị T5.
  • Yêu cầu hủy GCNQSD đất số CR 050074 ngày 07/7/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho anh Phạm Văn V1 đối với diện tích 8.215,1m² thuộc thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B.
  • Yêu cầu hủy GCNQSD đất số CU 775650 ngày 15 tháng 9 năm 2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Phạm Thị H đối với diện tích 8.215,1m² thuộc thửa đất số 1691, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B.
  • Yêu cầu bà H trả số tiền 6.722.500đ (Tiền bồi thường do Nhà nước thu hồi phần đất được bà T5 tặng cho 268,9m²); số tiền 54.562.500đ (Tiền bồi thường do Nhà nước thu hồi phần đất tự khai phá 2.182,5m²); số tiền 1.095.000₫ (Tiền bồi thường do Nhà nước thu hồi phần đất là di sản thừa kế của cụ T5 tương đương 1suất theo luật)(theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn). Tổng số tiền bà H phải trả cho bà L: 62.380.000₫.
  • Yêu cầu bà H phải trả lại phần đất khai phá có diện tích 3.073,3m² thuộc thửa đất số 1691, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B cho bà.
  • Yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Q1 và cụ T5 theo pháp luật.
  • Yêu cầu bà H khai thác, di dời các cây keo, chồi mỡ trên phần đất khai phá 3.073,3m² và phần đất thừa kế 237,8m² để trả đất cho bà sử dụng và công nhận quyền sử dụng đất cho bà đối với 2 phần đất trên

Quá trình giải quyết bà L rút yêu cầu khởi kiện đối với các nội dung sau:

  • Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 397485 ngày 24/5/2018 của UBND thành phố B cấp cho bà Phùng Thị T5.
  • Yêu cầu hủy một phần Quyết định số 2175/QĐ-UBND ngày 17 tháng 9 năm 2021 của UBND thành phố B, tỉnh Bắc Kạn về việc: Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích thực hiện Dự án: Xây dựng tuyến đường thành phố B - Hồ B (Đoạn đường thành phố B) đối với việc thu hồi 3.022,6m² đất thuộc thửa số 1691, tờ bản đồ số 01, diện tích 9016m² tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đối với bà Phạm Thị H.

Bị đơn là bà Phạm Thị H trình bày:

Năm 1979, bố mẹ đẻ bà là cụ Phạm Văn Q1 (đã chết năm 1982) và cụ Phùng Thị T5 (đã chết năm 2020) đưa các con từ Nam Định đi xây dựng kinh tế mới tại thôn N, xã D. Năm 1981 đến sinh sống và canh tác tại khu đất tranh chấp.

Về quá trình quản lý, sử dụng: Sau khi cụ Q1 chết (năm 1982), cụ T5 cùng các con tiếp tục quản lý sử dụng đất. Quá trình quản lý sử dụng cụ T5 đã chia đất, tặng cho đất, bán đất cho các con các cháu trong gia đình, khi cụ còn sống không ai có ý kiến gì và cũng không có bất cứ tranh chấp gì. Sau khi cụ T5 chết, bà L đến tranh chấp với bà thửa đất số 1691, diện tích 9.016m² tại thôn N, xã D mà bà đã nhận chuyển nhượng của cụ T5 từ năm 2017.

Khoảng năm 2001 để hưởng chính sách trồng PAM của Nhà nước (trồng chè, keo, mỡ, quế) cụ T5 đã cho bà Phạm Thị T2 (con đẻ cụ T5) và ông Nguyễn Đức S1 (chồng bà T2) trồng mỡ và làm thủ tục xin cấp sổ bìa đỏ; năm 2009 bà Phạm Thị T2 và ông Nguyễn Đức S1 được UBND thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, diện tích 27.804m², đất rừng sản xuất, tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Tuy bìa đỏ đứng tên ông S1, bà T2 nhưng cụ T5 là người quản lý đất, bà T2, ông S1 chỉ sử dụng đất để trồng PAM. Sau khi hết chính sách trồng PAM (bà H không nhớ cụ thể vào năm nào), bà T2 khai thác hết cây thì cụ T5 tiếp tục sử dụng đất.

Khoảng cuối năm 2016, đầu năm 2017, cụ T5 bán cho anh Phạm Văn V1 2.411m², tặng cho anh V1 2.868m², nhưng thực tế thì cụ T5 vẫn quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất và đất vẫn đứng tên bà T2, ông S1 trong bìa đỏ.

Năm 2017, con trai cụ T5 là ông Phạm Văn R1 làm ăn thua lỗ, nợ nần nhiều nên cụ T5 đã gọi người vào bán nốt phần diện tích còn lại trong số bìa đỏ sau khi trừ đi phần đất đã bán và cho anh V1, biết tin cụ T5 có ý định bán đất cho người ngoài nên bà đã đứng ra mua với giá 150 triệu đồng, số tiền này cụ T5 đã trừ vào số nợ Ngân hàng bà đã đứng tên vay hộ ông R1. Việc mua bán giữa bà và cụ T5 có Giấy mua bán viết tay, có người làm chứng là bà Nguyễn Thị N ở tổ G, phường P. Theo giấy mua bán diện tích là hơn 1 ha nhưng khi đo đạc thực tế chỉ có 9.016m². Sau khi mua và được cấp GCNQSD đất bà không khai phá thêm và cũng không mua bán, tặng cho ai.

Đầu năm 2019, sức khỏe cụ T5 ngày càng yếu và cũng hết chính sách Nhà nước khuyến khích trồng PAM nên ông S1 và T2 đã làm thủ tục sang tên trả lại đất cho cụ T5, bằng cách lập hợp đồng tặng cho cụ Phùng Thị T5 toàn bộ diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 27.804m², đến giữa năm 2019, cụ T5 tặng cho anh Phạm Văn V1 (là cháu trai) toàn bộ diện tích 27.804m² trên. Phần đất 27.804m² gồm một phần bán cho anh V1, một phần tặng cho anh V1, một phần bán cho bà. Việc cụ T5 tặng cho anh Phạm Văn V1 cả phần đất đã bán cho bà năm 2017, bà biết nhưng bà không có ý kiến gì vì để anh V1 đo đạc lại sau đó sẽ tách sổ cho bà.

Sau khi bìa đỏ đứng tên anh V1, năm 2020 anh V1 đã thuê đo đạc lại vì diện tích đất thực tế sử dụng nhỏ hơn diện tích được cấp giấy chứng nhận. Ngày 07/7/2020, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 050074 cho anh Phạm Văn V1 với diện tích 14.295m² thuộc thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Diện tích đã bị giảm so với sổ bìa đỏ. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh Phạm Văn V1 làm hồ sơ đăng ký biến động đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B tách thửa 1591 thành 3 thửa để phân định rõ phần đất nào anh V1 được cụ T5 tặng cho, phần đất nào anh V1 đã mua của cụ T5, phần đất nào cụ T5 đã bán cho bà H. Cụ thể: Thửa 1690, diện tích 2.411m² là phần đất anh V1 mua của cụ T5; thửa 1696, diện tích 2.868m² là phần đất anh V1 nhận tặng cho của cụ T5; thửa 1691 diện tích 9.016m² đất RSX là phần đất bà H đã mua của cụ T5.

Ngày 11/8/2020, anh Phạm Văn V1 lập Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 1691 cho bà. Hợp đồng đã được Văn phòng C5 công chứng theo quy định. Ngày 15 tháng 9 năm 2020, bà được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSD đất. Sau khi được cấp GCNQSD đất, bà trực tiếp, quản lý sử dụng 9.016m². Năm 2021, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông tỉnh B đã thu hồi 3.022m² vào dự án Xây dựng tuyến đường B - Hồ B (đoạn qua thành phố B). Tiền đền bù đất và tài sản trên đất được khoảng 200 triệu đồng, bà đã nhận toàn bộ số tiền đền bù trên với Ban quản lý dự án và thời điểm đó bắt đầu phát sinh tranh chấp với bà L. Bà L cho rằng thửa đất trên có một phần đất bà L được tặng cho, một phần đất bà L tự khai phá và một phần đất là di sản thừa kế của cụ T5, bà L khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, yêu cầu trả lại đất, yêu cầu trả lại tiền bồi thường về đất bị thu hồi, yêu cầu hủy quyết định cấp GCNQSD đất và các GCNQSD đất cấp cho bà T2, ông S1, bà T5, anh V1, bà H, yêu cầu tuyên vô hiệu các giao dịch về QSD đất thửa đất 1591, 1691. Bà không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bà nhất trí dành 156m² để làm đất mộ và đất thờ cúng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Văn V1 trình bày:

Anh là con đẻ của ông Phạm Văn Q2 (chết năm 1997, ông Q2 là em trai của bà L, bà H), anh được sinh ra và lớn lên ở khu đất tranh chấp. Hiện nay anh đang xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Anh về Việt Nam từ ngày 17/11/2022 đến ngày 30/11/2022 lại tiếp tục sang Đài Loan sinh sống và làm việc.

Quá trình sinh sống tại khu đất tranh chấp, anh chưa bao giờ nghe thấy bà nội (cụ T5) cũng như các cô chú nói về việc bà nội tặng cho bà L đất cũng như việc bà L tự khai phá đất tranh chấp; chỉ thấy bố, các bác, các cô chú kể lại là cụ T5 trước đây có cho vợ chồng bà L ở nhờ trên một phần đất của cụ T5 cho đến khi bị cụ T5 đuổi đi. Từ khi cho vợ chồng bà L ở nhờ đến khi bị đuổi đi cũng như từ khi bị đuổi đi đến lúc cụ T5 chết chưa bao giờ thấy ai nói là cụ T5 nói miệng hay viết bất kỳ giấy tờ văn bản nào về việc cho vợ chồng bà L khu đất này, và từ sau khi bị đuổi đi cho đến nay cũng chưa bao giờ nhìn thấy vợ chồng bà L quay lại canh tác hay có bất kỳ hoạt động nào để sử dụng khu đất tranh chấp. Toàn bộ đất tranh chấp là của cụ T5, sau này cụ T5 bán cho bà H, do vậy là đất của bà H, không phải là đất của vợ chồng bà L khai phá, được tặng cho và cũng không phải là di sản thừa kế của cụ T5.

Khoảng năm 2016, ông Phạm Văn R1 làm ăn thua lỗ, nợ nần nhiều nên cụ T5 đã tìm người bán đất để lấy tiền trả nợ cho ông R1, anh V1 và bà H đã mua để giữ đất, không cho cụ bán cho người ngoài. Năm 2017, cụ T5 bán cho anh 2.411m², tặng cho anh 2.868m² nhưng thực tế cụ T5 vẫn quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất vì lúc đó anh đang đi xuất khẩu lao động. Phần còn lại cụ bán cho bà H là 9.016m². Việc mua bán, tặng cho giữa anh và cụ T5 chỉ nói bằng miệng, còn với bà H có giấy mua bán viết tay. Do lúc tặng cho và mua bán thì sổ bìa đỏ vẫn mang tên vợ chồng bà T2, anh lại đang ở nước ngoài nên cả anh và bà H không làm thủ tục sang tên bìa đỏ ngay được. Đến năm 2019, cụ T5 mới lập hợp đồng tặng cho toàn bộ diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh. Anh đã ủy quyền cho bà H làm thủ tục nhận tặng cho thay anh.

Ngày 29/3/219 tại Phòng C3 tỉnh Bắc Kạn anh đã ủy quyền cho bà Phạm Thị H, đại diện cho anh thực hiện thủ tục nhận tặng cho quyền sử dụng đất của bà Phùng Thị T5 thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 1, diện tích 27.804m². Việc anh ủy quyền là hoàn toàn tự nguyện. Chữ ký “Vằn” và chữ viết “Phạm Văn V1 ” trong Hợp đồng đúng là chữ ký và chữ viết của anh. Hợp đồng đã được thực hiện công chứng tại Văn phòng C6, vì vậy anh khẳng định việc thực hiện ủy quyền giữa anh và bà H là đúng quy định của pháp luật.

Ngày 01/4/2019, cụ Phùng Thị T5 đã ký hợp đồng tặng cho anh toàn bộ thửa đất số 1591, diện tích 27.804m², hợp đồng cũng đã được Phòng C3 tỉnh Bắc Kạn công chứng đúng quy định, trong hợp đồng bà H đại diện cho anh nhận tặng cho thửa đất số 1591 từ cụ T5. Việc anh ủy quyền cho bà H thay mặt anh nhận tặng cho đất của cụ T5 là vì thời gian anh được ở lại Việt Nam rất ngắn trong khi việc thực hiện các thủ tục nhận tặng cho rất phức tạp, phải đi lại nhiều lần nên anh đã ủy quyền cho bà H đại diện thực hiện thủ tục nhận tặng cho đất, việc cụ T5 tặng cho anh thửa đất trên là hoàn toàn tự nguyện, khi đó anh không còn ở Việt Nam nên cụ T5 đã trực tiếp gọi điện cho anh nói làm thủ tục tặng cho anh đất lúc đó cụ hoàn toàn minh mẫn, khỏe mạnh. Khi cụ T5 tặng cho anh thửa đất trên, không ai có ý kiến gì, cả bà L và ông S1 cũng không có ý kiến gì.

Sau khi được cấp GCNQSD đất anh đã ủy quyền cho bà H thuê đo đạc, tách thửa và làm thủ tục cấp bìa đỏ đối với phần đất anh được cụ T5 tặng cho, phần đất anh mua với cụ T5 và phần đất bà H mua với cụ T5. Sau khi đo đạc lại diện tích đất giảm chỉ còn 14.295m² và anh đã tách thửa đất trên thành 3 thửa: Thửa 1690, diện tích 2.411m² là phần đất anh mua với cụ T5; thửa 1696, diện tích 2.868m² là phần đất anh nhận tặng cho của cụ T5 và thửa 1691 diện tích 9.016m² là phần đất bà H đã mua của cụ T5.

Ngày 11/8/2020 anh ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 1691 cho bà H. Tại thời điểm chuyển nhượng do anh đang ở Đài Loan không thể về nước ký hợp đồng nên khi bà H đến Văn phòng C7 thủ tục, bà H và công chứng viên đã gọi điện cho anh và thống nhất việc chuyển nhượng thửa đất số 1691. Việc anh chuyển nhượng diện tích đất trên cho bà H là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Anh xác định, mặc dù chữ ký và điểm chỉ “Phạm Văn V1” tại Hợp đồng chuyển nhượng ngày 11/8/2020 không phải là của anh nhưng anh hoàn toàn nhất trí và tự nguyện thực hiện việc chuyển nhượng đất. Việc anh chuyển nhượng thửa đất trên cho bà H cũng không ai có ý kiến gì, cả bà L và ông S1 cũng không có ý kiến gì.

Nay bà L khởi kiện bà H yêu cầu chia di sản thừa kế, yêu cầu trả lại đất, yêu cầu trả lại tiền bồi thường về đất bị thu hồi, yêu cầu hủy quyết định cấp Giấy chứng nhận QSD đất và các giấy chứng nhận QSD đất cấp cho bà T2, ông S1, bà T5, anh V1, bà H, yêu cầu tuyên vô hiệu các giao dịch về QSD đất thửa đất 1591, 1691. Anh không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L, nhất trí với ý kiến của bà H. Anh không có yêu cầu độc lập.

Ông Phạm Hùng R trình bày:

Lời khai của bà H về nguồn gốc, quá trình sử dụng, việc mua bán, tặng cho thửa đất tranh chấp là đúng với thực tế, cụ T5 chưa bao giờ tặng cho bà L phần đất nào trong thửa đất tranh chấp mà năm 1987, bà L kết hôn với ông S1, không có đất ở nên cụ T5 cho bà L làm nhờ trên đất 1 ngôi nhà nhưng chỉ ở được một thời gian ngắn, vợ chồng bà L cãi nhau với mẹ (cụ T5) và anh chị em nên bị mẹ đuổi đi, từ năm 1990 bà L đã dỡ nhà chuyển đi nơi khác sinh sống, toàn bộ đất tranh chấp là do cụ T5 khai phá quản lý sử dụng, bà L chưa bao giờ khai phá phần đất nào, các cây trồng trên đất cũng do cụ T5 và các con của cụ T5 (không có bà L) tạo lập, hiện nay trên đất tranh chấp có một số cây si ông trồng từ năm 2011, việc ông trồng cây trên đất không ai trong gia đình trong đó có cả bà L có ý kiến gì. Khoảng năm 2009 để hưởng chính sách PAM của Nhà nước nên cụ T5 đã cho vợ chồng bà T2 sử dụng toàn bộ đất để trồng cây đồng thời bà T2 đã kê khai để cấp bìa đỏ, khi bà T2 kê khai cấp bìa đỏ cả gia đình đều biết nhưng không ai có ý kiến gì.

Năm 2017 vì làm ăn thua lỗ ông bị vỡ nợ, ông đã phải vay tiền của các chị em trong gia đình, người vay ít, người vay nhiều trong đó bà H đã vay giúp ông số tiền 900 triệu đồng để ông trả nợ và cũng chính vì khoản nợ này của ông với bà H mà cụ T5 mới phải bán đất cho anh V1 và bà H. Ông khẳng định việc mua bán đất giữa cụ T5 với bà H là thực tế, khi đó cụ T5 hoàn toàn minh mẫn, khỏe mạnh tuy nhiên do lúc mua bán, bìa đỏ vẫn đứng tên bà T2 nên bà H, anh V1 và cụ T5 mới thống nhất để anh V1 nhận tặng cho toàn bộ thửa đất của cụ T5 sau đó anh V1 thực hiện tách sổ cho bà H. Thửa đất tranh chấp thuộc QSD của bà H không phải đất bà L được tặng cho, tự khai phá, cũng không phải di sản thừa kế của cụ T5 để lại.

Nay bà L khởi kiện yêu cầu bà H chia di sản thừa kế, yêu cầu trả lại đất, yêu cầu trả lại tiền bồi thường về đất bị thu hồi, yêu cầu hủy quyết định cấp Giấy chứng nhận QSD đất và các giấy chứng nhận QSD đất cấp cho bà T2, ông S1, bà T5, anh V1, bà H, yêu cầu tuyên vô hiệu các giao dịch về QSD đất thửa đất 1591, 1691. Ông không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L, nhất trí với ý kiến của bà H. Ông không có yêu cầu độc lập.

Bà Phạm Thị T2 trình bày:

Bà là em gái ruột của bà Phạm Thị H và bà Phạm Thị L. Bà sống cùng cụ T5 từ năm 1981 cho đến 1994 đi lấy chồng nhưng trên thực tế bà vẫn canh tác nhờ trên đất của cụ T5.

Về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất tranh chấp: Bà nhất trí với lời khai của bà H. Toàn bộ đất tranh chấp là do cụ T5 khai phá quản lý sử dụng, các cây trồng trên đất cũng là do cụ T5 và các con của cụ T5 (không có bà L) tạo lập, việc bà L ở trên đất tranh chấp từ năm 1987 đến khi bị cụ T5 đuổi đi là do cụ T5 cho ở nhờ. Khi cụ T5 còn sống lúc khỏe thì cụ T5 là người trực tiếp hái chè, từ khi sức khỏe yếu, cụ T5 cho ông Bùi Văn T6, hiện nay trú tại thôn Q, xã D hái chè và thi thoảng biếu cụ T5 chè uống.

Năm 1998 bà chuyển vào sống gần nhà mẹ (cụ T5). Khi đó Nhà nước có Dự án 5322 trồng cây mỡ, Dự án hỗ trợ gạo, cây giống, phân bón nên cụ T5 đã bảo bà làm thủ tục cấp GCNQSD đất để được trồng cây dự án, do vậy bà đã trồng toàn bộ cây mỡ lên thửa đất của cụ T5, được nhà nước hỗ trợ gạo 3 năm và bà cũng được cấp GCNQSD đất là thửa đất 1591, diện tích 27.804m². Khi cấp GCNQSD đất hộ gia đình bà chỉ có bà và ông Nguyễn Đức S1 (chồng bà), các con khi đó còn nhỏ không có công sức đóng góp gì, các anh chị em trong gia đình (trong đó có cả bà L) đều biết việc bà kê khai để cấp GCNQSD đất thửa đất của cụ T5 nhưng việc cấp GCNQSD đất chỉ để hưởng lợi từ chính sách PAM của Nhà nước nên không ai có ý kiến gì, sau 3 năm Nhà nước hết hỗ trợ, cây cũng đã lớn nên bà giao lại đồi cây cho cụ T5 quản lý và bà cũng đã làm thủ tục tặng cho để trả lại đất cho cụ T5. Năm 2017 cụ T5 bán một phần đất cho bà H chính là phần đất tranh chấp, khi đó cụ T5 vẫn hoàn toàn minh mẫn, khỏe mạnh, việc viết giấy mua bán bà không được chứng kiến nhưng bà khẳng định có việc bà H nhận chuyển nhượng đất của cụ T5 với số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng), khi đó bà và các anh chị em trong gia đình đều biết (trong đó có cả bà L) và không ai có ý kiến gì. Bà khẳng định thửa đất tranh chấp 1691 là của bà H mua với cụ T5 nên thuộc QSD của bà H không phải đất bà L được tặng cho, tự khai phá, cũng không phải di sản thừa kế của cụ T5 để lại.

Nay bà L khởi kiện yêu cầu bà H chia di sản thừa kế, yêu cầu trả lại đất, yêu cầu trả lại tiền bồi thường về đất bị thu hồi, yêu cầu hủy quyết định cấp Giấy chứng nhận QSD đất và các giấy chứng nhận QSD đất cấp cho bà T2, ông S1, bà T5, anh V1, bà H, yêu cầu tuyên vô hiệu các giao dịch về QSD đất thửa đất 1591, 1691. Bà không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L, nhất trí với ý kiến của bà H. Bà không có yêu cầu độc lập. Bà nhất trí để phần đất 156m² là đất mộ, dùng để thờ cúng.

Bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị L2, bà Phạm thị L3 trình bày:

Các bà là chị em gái của bà Phạm Thị H và bà Phạm Thị L. Các bà nhất trí với toàn bộ lời khai và ý kiến của bà H, bà T2, ông R, không nhất trí với toàn bộ lời khai của bà L vì không đúng với thực tế sự việc, bà L không có tư cách để khởi kiện bà H hay khởi kiện bất kỳ ai trong gia đình là con của cụ T5 về việc chia thừa kế hay đòi bất kỳ một quyền lợi gì vì cụ T5 và bà L đã từ nhau từ năm 1991 đến khi cụ T5 chết. Từ khi bà L bị cụ T5 đuổi đi thì bà L đã không còn quan tâm đến bất kỳ công việc gì trong gia đình, không quan tâm hay có trách nhiệm gì với mẹ và các anh chị em.

Nay bà L khởi kiện yêu cầu bà H chia di sản thừa kế, yêu cầu trả lại đất, yêu cầu trả lại tiền bồi thường về đất bị thu hồi, yêu cầu hủy quyết định cấp Giấy chứng nhận QSD đất và các giấy chứng nhận QSD đất cấp cho bà T2, ông S1, bà T5, anh V1, bà H, yêu cầu tuyên vô hiệu các giao dịch về QSD đất thửa đất 1591, 1691. Các bà không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L, nhất trí với ý kiến của bà H. Các bà không có yêu cầu độc lập. Các bà nhất trí để phần đất 156m² là đất mộ, dùng để thờ cúng.

Bà Lương Thị C trình bày:

Bà là vợ của ông Phạm Văn Q2 (em ruột của bà L, bà H, ông Q2 chết năm 1997). Năm 1987, bà về làm dâu nhà cụ T5, ở chung với cụ T5 đến năm 2001. Từ năm 2002 đến nay bà ra ở riêng nhưng vẫn sống gần nhà cụ T5 và hàng ngày đi lại thăm nom cụ T5 lúc cụ còn sống. Khi bà về làm dâu thì toàn bộ khu đất, gia đình chồng bà đã khai phá nhưng chưa canh tác hết nên năm 1988 vợ chồng bà và vợ chồng bà L cùng nhau phát cỏ để trồng sắn, năm 1989 thì bà không tác nữa do sinh con, còn bà L vẫn tiếp tục canh tác được một thời gian thì bỏ trống do đã chuyển nhà đi nơi khác sống.

Sau khi bà L chuyển đi khu đất này vẫn để không, đến khoảng năm 1998 vợ chồng bà T2, ông S1 vào trồng cây mỡ theo dự án PAM để lấy gạo ăn Sau khi vợ chồng bà T2 trồng mỡ thì bà không thấy vợ chồng bà L sử dụng đất nữa, khi đó bà đã thấy cụ T5 nói là chỉ cho trồng cây nhờ để hưởng chế độ gạo của chính sách PAM, không cho đất. Quá trình chung sống cùng cụ T5, bà biết cụ T5 đã bán đất cho anh V1 (con trai của bà). Tuy nhiên bán bao nhiêu đất, giá bao nhiêu tiền, bà không biết cụ thể. Sau khi mua đất anh V1 làm thủ tục như thế nào và có mua bán, tặng cho ai hay không, bà không biết. Đến năm 2021 Nhà nước thu hồi đất làm đường và tiến hành đo đạc, kê khai bà mới biết bà H có sổ bìa đỏ khu đất này. Còn bà H đứng tên bìa đỏ từ đâu và từ khi nào, việc bà L có được cụ T5 cho đất, bà L có khai phá đất gần đất của cụ T5 hay không, bà không biết vì khi đó đất nhà chồng của bà rộng, các anh chị em sau khi xây dựng gia đình vẫn sống cùng khu đất với cụ T5, đất trống chỗ nào, ai muốn canh tác thì canh tác và vợ chồng bà L lúc đó cũng thế.

Bà khẳng định không biết đất tranh chấp là của ai, chỉ thấy từ trước đến nay đều là người trong gia đình cụ T5 sử dụng, có giai đoạn bà L sử dụng, có giai đoạn vợ chồng bà T2 sử dụng, có giai đoạn cụ T5 sử dụng, có giai đoạn để trống.

Nay bà L khởi kiện bà không có ý kiến gì với yêu cầu khởi kiện của bà L, bà xác định không có quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan đến thửa đất tranh chấp và đề nghị không triệu tập bà tham gia tố tụng, bà không có yêu cầu độc lập và đề nghị vắng mặt trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án và tại phiên tòa.

Chị Phạm Thị T3 trình bày:

Chị sinh ra và lớn lên tại khu đất tranh chấp nhưng vì sức khỏe yếu nên chị không để ý đến việc đất cát trong gia đình, do vậy chị không biết gì về nguồn gốc thửa đất, còn về quá trình quản lý sử dụng thì từ trước đến nay tất cả mọi người trong gia đình đều quản lý sử dụng, có giai đoạn bà L sử dụng, có giai đoạn vợ chồng bà T2 sử dụng, có giai đoạn cụ T5 sử dụng, có giai đoạn đất để trống. Do vậy chị không biết thửa đất tranh chấp là của ai. Chị không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà L, chị xác định không có quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan đến thửa đất tranh chấp nên không có yêu cầu độc lập và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Anh Phạm Văn V trình bày:

Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp anh không biết nhưng quá trình quản lý sử dụng đất chỉ thấy bà T2 và cụ T5 sử dụng, sau đó cụ T5 bán, tặng cho anh V1 như thế nào, anh không biết, việc bà L có được cụ T5 tặng cho, tự khai phá hay không, anh không biết. Anh không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi của bà L, anh xác định không có quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan đến thửa đất tranh chấp nên không có yêu cầu độc lập.

Ông Tô Xuân S trình bày:

Ông là chồng của bà L, nay bà L khởi kiện bà H, yêu cầu bà H chia di sản thừa kế, yêu cầu trả lại đất, yêu cầu trả lại tiền bồi thường về đất bị thu hồi, yêu cầu hủy quyết định cấp Giấy chứng nhận QSD đất và các giấy chứng nhận QSD đất cấp cho bà T2, ông S, bà T5, anh V1, bà H, yêu cầu tuyên vô hiệu các giao dịch về QSD đất thửa đất 1591, 1691. Ông nhất trí với toàn bộ nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà L, không bổ sung gì thêm, không nhất trí với phần trình bày của bị đơn. Ông không có yêu cầu độc lập.

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B có ý kiến:

Năm 2009, hộ ông Nguyễn Đức S1 và bà Phạm Thị T2, trú tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dự án Đo đạc bản đồ lâm nghiệp bằng phương pháp chụp ảnh hàng không. Ngày 15/6/2009, UBND thị xã B đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 499527 cho hộ ông Nguyễn Đức S1 và bà Phạm Thị T2 diện tích 27.804 m2, loại đất rừng sản xuất, thửa số 1591, tờ bản đồ số 01, tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

Ngày 21/2/2019, ông S1, bà T2 ký hợp đồng tặng cho bà Phùng Thị T5 toàn bộ diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố B đã chỉnh lý biến động tại trang 4 giấy chứng nhận quyền dụng đất.

Ngày 01/4/2019, bà Phùng Thị T5 ký hợp đồng tặng cho anh Phạm Văn V1 toàn bộ diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố B chỉnh lý biến động tại trang 4 giấy chứng nhận quyền dụng đất. Năm 2020, ông Phạm Văn V1 thuê Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh B đo đạc lại hiện trạng sử dụng đất, kết quả còn 14.295m2 (giảm 13.509m2 so với diện tích theo GCNQSD đất). Nguyên nhân giảm: Trước đây đo vẽ không đúng hiện trạng.

Sau khi đo đạc ông V1 có đơn xin đăng ký cấp đổi, được UBND xã D xác nhận. Ngày 07/7/2020 ông Phạm Văn V1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 050074, thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 1, diện tích 14.295m², loại đất: Đất rừng sản xuất (RSX) tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Ngày 05/8/2020 ông Phạm Văn V1 đã có đơn đề nghị tách thửa gửi đến Chi nhánh VPĐK đất đai thành phố B và đã được đăng ký biến động tách thửa thành 03 thửa (thửa 1690, diện tích 2.411,0m², thửa 1696, diện tích 2.868,m² (để in mới Giấy chứng nhận) và thửa 1691.

Ngày 11/8/2020, ông Phạm Văn V1 và bà Phạm Thị H ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 1691, hợp đồng đã được Văn phòng C5; Quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/8/2020. Ngày 28/8/2020, bà Phạm Thị H nộp hồ sơ và đơn đăng ký biến động tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ đề nghị đăng ký biến động sang tên.

Chi nhánh VPĐK đất đai thành phố B đã hoàn thiện và trình Văn phòng đăng ký đất đai, Sở T cấp GCNQSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Phạm Thị H tại giấy chứng nhận số CU 775650, số vào sổ CS 01768 ngày 15/9/2020, thửa đất số 1691, tờ bản đồ số 01, tổng diện tích 9.016,0m², loại đất: Đất rừng sản xuất (RSX) tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B khẳng định việc đăng ký biến động và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh V1, bà H là đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 99,167 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 75 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Nay bà L khởi kiện bà H và yêu cầu hủy phần đăng ký biến động của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B tại trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 499527 ngày 15/6/2009 của UBND thị xã B cấp cho hộ ông Nguyễn Đức S1 và bà Phạm Thị T2 và hủy các GCNQSD đất số CR 050074, ngày 07/7/2020 cấp cho anh Phạm Văn V1 thửa đất số 1591 và giấy chứng nhận số CU 775650 ngày 15/9/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Phạm Thị H thửa đất số 1691. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B không nhất trí với các yêu cầu khởi kiện trên của bà L, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông tỉnh B có ý kiến:

Diện tích đất tranh chấp được UBND thành phố B thu hồi để sử dụng vào mục đích thực hiện dự án tại Quyết định số 2175/QĐ-UBND ngày 17/9/2021. Phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng được UBND thành phố B phê duyệt tại Quyết định số 2174/QĐ-UBND ngày 17/9/2021. Bà Phạm Thị H là người đứng tên trong “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 775650” do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 15/9/2020” (theo bản đồ trích đo phục vụ thu hồi đất để làm công trình là thửa số 5 tờ bản đồ số 4 với diện tích thu hồi 3.022,6m²). Căn cứ quy định của pháp luật, Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông tỉnh Bắc Kạn chi trả tiền bồi thường đối với diện tích đất thu hồi (cá nhân bà H đứng tên) cho bà Phạm Thị H vào ngày 07/6/2022 với tổng số tiền là 200.151.000 đồng, bà H đã bàn giao mặt bằng thi công cho chủ đầu tư và nhà thầu thi công.

UBND thành phố B có ý kiến:

Theo quyết định số 2175 ngày 17/9/2021 của UBND thành phố B thì tổng diện tích thu hồi của bà Phạm Thị H tại thôn N, xã D là 3.022,6m² loại đất rừng sản xuất (RSX) tại thửa số 5, tờ bản đồ số 4 (bản đồ thu hồi). Hộ bà Phạm Thị H được phê duyệt tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ GPMB cụ thể: Số tiền bồi thường đất: Diện tích 3.022,6m2 loại đất RSX là 75.565.000 đồng; Tiền hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm là 90.678.000 đồng; T7 bồi thường cây cối hoa màu là 33.908.000 đồng.

Quá trình thu hồi giải phóng mặt bằng, diện tích bị thu hồi đứng tên bà H, bà H là người đứng ra đo đạc, thống kê, kê khai. Quá trình này Ủy ban không nhận được ý kiến hay khiếu nại gì.

UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2175 ngày 17/9/2021 là đúng quy định của pháp luật, đúng thẩm quyền, do vậy UBND thành phố Bắc Kạn không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà L.

Về trình tự, thủ tục, căn cứ cấp GCNQSD đất số AP 499527 ngày 15/6/2009 của UBND thị xã (nay là thành phố) Bắc Kạn cho hộ ông Nguyễn Đức S1 và bà Phạm Thị T2 đối với thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, diện tích 27.804 m², loại đất rừng sản xuất, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn là Điều 50 Luật Đất đai năm 2003, Điều 48 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ, mục I phần 2 Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của T9.

Nguồn gốc thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, diện tích 27.804 m² là Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. Việc cấp GCNQSD đất số AP 499527 ngày 15/6/2009 cho hộ ông Nguyễn Đức S1 và bà Phạm Thị T2 là cấp lần đầu. Việc nguyên đơn cho rằng GCNQSD đất số AP 499527 ngày 15/6/2009 của UBND thị xã (nay là thành phố) Bắc Kạn cấp cho hộ ông Nguyễn Đức S1 và bà Phạm Thị T2 đối với thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, diện tích 27.804m² là không đúng quy định của pháp luật, không đúng nguồn gốc và đối tượng sử dụng đất, đề nghị Tòa án căn cứ vào hồ sơ vụ việc, tài liệu, chứng cứ thu thập được giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Phần diện tích còn lại của thửa đất số 1691(phần đất chưa bị thu hồi), tờ bản đồ số 1 có một phần diện tích phù hợp với quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2030 thành phố B được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1238/QĐ-UBND ngày 16/7/2021 và kế hoạch sử dụng đất năm 2023 được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2660/QĐ-UBND ngày 30/12/2022 là đất ở. Theo quy hoạch chung xây dựng thành phố B giai đoạn 2010-2020, định hướng đến năm 2030 được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 931/QĐ-UBND ngày 19/6/2012 và điều chỉnh cục bộ tại Quyết định số 298/QĐ-UBND ngày 05/3/2021 phần đất trên không thuộc quy hoạch đất rừng phòng hộ nên đủ điều kiện để cấp GCNQSD đất và chuyển quyền sử dụng đất.

Đại diện Phòng C3 tỉnh Bắc Kạn trình bày:

Hợp đồng ủy quyền ngày 29/3/2019 giữa người ủy quyền anh Phạm Văn V1, người được ủy quyền bà Phạm Thị H và Hợp đồng tặng cho ngày 01/4/2019 giữa bên tặng cho bà Phùng Thị T5, bên nhận tặng cho anh Phạm Văn V1 là do Phòng C3 tỉnh Bắc Kạn công chứng, công chứng viên công chứng 02 Hợp đồng trên là bà Nguyễn Thị Thúy H1.

Việc công chứng hợp đồng nói chung và hợp đồng ủy quyền nói riêng trong trường hợp một bên tham gia hợp đồng ở nước ngoài thì người ở nước ngoài phải có văn bản ủy quyền được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định. Tuy nhiên Hợp đồng ủy quyền ngày 29/3/2019 thể hiện người ủy quyền anh Phạm Văn V1 và người nhận ủy quyền bà Phạm Thị H đều có mặt tại Việt Nam nên văn bản ủy quyền không cần hợp pháp hóa lãnh sự.

Theo giấy tờ trong hồ sơ công chứng thì tại thời điểm ký Hợp đồng ủy quyền ngày 29/3/2019 bên ủy quyền anh Phạm Văn V1 và bên nhận ủy quyền bà Phạm Thị H đều có mặt tại phòng công chứng, anh V1 và bà H xuất trình chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu, công chứng viên đã kiểm tra các giấy tờ trên, các bên giao kết hợp đồng tự đọc toàn bộ nội dung hợp đồng, đồng ý toàn bộ nội dung của hợp đồng và cùng ký trước mặt công chứng viên (đã thể hiện ở Lời chứng của Công chứng viên).

Nay nguyên đơn bà Phạm Thị L khởi kiện cho rằng Hợp đồng ủy quyền ngày 29/3/2019 không có giá trị pháp lý do bên ủy quyền anh Phạm Văn V1 không có mặt tại Việt Nam tại thời điểm ký kết hợp đồng, do vậy hợp đồng tặng cho giữa bên tặng cho bà Phùng Thị T5 và bên nhận tặng cho anh Phạm Văn V1 cũng không có giá trị về mặt pháp lý, do vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng ủy quyền ngày 29/3/2019, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 01/4/2019 đối với thửa đất 1591, tờ bản đồ số 1, do Phòng C3 tỉnh Bắc Kạn công chứng là vô hiệu và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho anh V1 đối với phần đất anh V1 được bà T5 tặng cho thửa đất 1591, tờ bản đồ số 1. Phòng C3 tỉnh Bắc Kạn không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì việc công chứng các hợp đồng nêu trên đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Đại diện Văn phòng C5 trình bày:

Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 11/8/2020 giữa người chuyển nhượng anh Phạm Văn V1, người nhận chuyển nhượng bà Phạm Thị H đối với thửa đất 1691, tờ bản đồ số 1 là do Văn Phòng C5 thực hiện, ông là người trực tiếp công chứng hợp đồng. Việc công chứng các giao dịch về quyền sử dụng đất trong trường hợp một bên tham gia giao dịch tại thời điểm giao dịch ở nước ngoài (Đài Loan) thì khi có văn bản ủy quyền hợp lệ cho cá nhân trong nước thực hiện giao dịch, Văn phòng công chứng sẽ công chứng cho giao dịch đó và việc công chứng trong trường hợp này là hợp pháp. Đối với Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 11/8/2020, anh Phạm Văn V1 đã có văn bản ủy quyền cho bà Phạm Thị H, do vậy Văn phòng C5 đã công chứng Hợp đồng trên cho anh V1 và bà H.

Tại thời điểm ký hợp đồng có mặt bà Phạm Thị H, vắng mặt anh Phạm Văn V1 nhưng anh V1 đã có Hợp đồng ủy quyền cho bà Phạm Thị H và khi đó công chứng viên đã gọi điện video cho anh Phạm Văn V1, xác nhận ý kiến của anh V1 về việc nhất trí chuyển nhượng đất cho bà H, ông đã lập biên bản sự việc quay video cuộc gọi với anh V1, khi đủ căn cứ ông mới công chứng Hợp đồng. Quá trình ký hợp đồng các bên tham gia phải xuất trình giấy tờ tùy thân, công chứng viên kiểm tra đối chiếu chính xác người tham gia giao dịch đúng là người có tên trong Hợp đồng, các bên được nghe, đọc nội dung hợp đồng, bà Phạm Thị H ký, điểm chỉ vào Hợp đồng công chứng viên mới tiến hành công chứng. Bà Phạm Thị H đã được anh Phạm Văn V1 ủy quyền, nên bà H là người ký chữ ký “Vằn” và điểm chỉ tại Hợp đồng chuyển nhượng. Thông thường, hợp đồng chuyển nhượng sẽ không ký “KT- ký thay” mà việc ký như thế nào là tùy thuộc vào người đã nhận ủy quyền. Việc bà H ký “Vằn” thay cho anh V1 là đúng quy định. Việc giao dịch qua điện thoại không được pháp luật quy định nhưng để đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia giao dịch và đảm bảo tính chính xác của việc công chứng, công chứng viên vẫn thực hiện, do vậy việc ông công chứng Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 11/8/2020 là đúng trình tự, thủ tục, đúng quy định của pháp luật và Hợp đồng trên hoàn toàn có giá trị pháp lý.

Nay nguyên đơn khởi kiện bị đơn và cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 11/8/2020 nêu trên không có giá trị pháp lý nên yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 11/8/2020 giữa người chuyển nhượng anh Phạm Văn V1, người nhận chuyển nhượng bà Phạm Thị H đối với thửa đất 1691, tờ bản đồ số 1, do Văn Phòng C5 thực hiện là vô hiệu và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho bà Phạm Thị H đối với thửa đất 1691, tờ bản đồ số 1. Ông và Văn phòng C5 không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2023/DS-ST ngày: 26/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã quyết định:

Áp dụng: Điều 50 Luật Đất đai 2003; Điều 106, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai 2013; Điều 122, Điều 124, Điều 467 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 117, Điều 119, Điều 459, Điều 562, Điều 565, Điều 566, Điều 567, Điều 568; Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 244, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 475, Điều 476, khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc

  • Yêu cầu hủy một phần Quyết định số 1652/QĐ-UBND ngày 12/02/2008 về việc phê duyệt, giao đất và cấp Giấy chứng nhận QSD đất lâm nghiệp cho 600 hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại xã D và Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 499527 ngày 15/6/2009 của UBND thị xã B (nay là thành phố B) cấp cho hộ ông Nguyễn Đức S1 và bà Phạm Thị T2 đối với phần đất có diện tích 8.215,1m² (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn) thuộc thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B.
  • Yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho ông Nguyễn Đức S1 và bà Phạm Thị T2, bên được tặng cho bà Phùng Thị T5 đối với phần đất bà L cho rằng bà L được tặng cho (268,9m²), phần đất khai phá 5.525,8m²(2.182,5m² + 3.073,3m²) (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2022 của Tòa án) thuộc thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B là vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý.
  • Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng ủy quyền ngày 29/3/2019 giữa bên ủy quyền Phạm Văn V1 và bên nhận ủy quyền Phạm Thị H; số công chứng 380, quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD của Phòng C3 là vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý.
  • Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 01/4/2019 giữa bên tặng cho Phùng Thị T5 và bên nhận tặng cho Phạm Văn V1; Số công chứng 381; quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD của Phòng C3 đối với phần đất tặng cho (268,9m²), khai phá 5.525,8m² (2.182,5m² + 3.073,3m²) (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2022 của Tòa án) thuộc thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B là vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý.
  • Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/8/2020 giữa bên chuyển nhượng Phạm Văn V1 và bên nhận chuyển nhượng Phạm Thị H; Số công chứng: 1380; quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C5 đối với phần đất 8.215,1m² (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2022 của Tòa án) thuộc thửa đất số 1691, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B là vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý.
  • Hủy phần đăng ký biến động của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố B tại trang 4 Giấy chứng nhận QSD đất số AP 499527 ngày 15/6/2009 của UBND thị xã B (nay là thành phố B) cấp cho hộ ông Nguyễn Đức S1 và bà Phạm Thị T2 đối với phần đất tặng cho có diện tích 268,9m², và phần đất khai phá có tổng diện tích 5.525,8m² (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2022 của Tòa án) theo đăng ký biến động từ ông Nguyễn Đức S1, bà Phạm Thị T2 cho bà Phùng Thị T5.
  • Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSD đất số CR 050074 ngày 07/7/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho anh Phạm Văn V1 đối với diện tích 8.215,1m² (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn) thuộc thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B.
  • Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 775650 ngày 15 tháng 9 năm 2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Phạm Thị H đối với diện tích 8.215,1m² (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn) thuộc thửa đất số 1691, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B.
  • Yêu cầu bà H trả số tiền 6.722.500đ (Tiền bồi thường do Nhà nước thu hồi phần đất được bà T5 tặng cho 268,9m²); số tiền 54.562.500đ (Tiền bồi thường do Nhà nước thu hồi phần đất tự khai phá 2.182,5m²); số tiền 1.095.000đ (Tiền bồi thường do Nhà nước thu hồi phần đất là di sản thừa kế của cụ T5 tương đương 1suất theo luật)(theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn). Tổng số tiền bà H phải trả cho bà L: 62.380.000₫.
  • Yêu cầu bà H phải trả lại phần đất khai phá có diện tích 3.073,3m² (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2022 của Tòa án) thuộc thửa đất số 1691, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã D, thành phố B cho bà.
  • Yêu cầu bà H chia QSD đất tương đương1 suất thừa kế theo luật có diện tích là 237,8m², chiều rộng mặt đường 3,91m thuộc thửa đất số 1691, tờ bản đồ số 1, có giá trị là: 237,8m² x 25.000đ/m² = 5.945.000đ đối với phần đất là di sản thừa kế của cụ Phùng Thị T5 (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn).
  • Yêu cầu bà H cắt, chặt, khai thác, di dời các cây keo, chồi mỡ trên phần đất khai phá 3.073,3m² và phần đất thừa kế 237,8m² để trả đất cho bà L sử dụng và công nhận quyền sử dụng đất cho bà L đối với 2 phần đất trên.

(Có trích đo địa chính kèm theo)

2. Đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 397485 ngày 24/5/2018 của UBND thành phố B cấp cho bà Phùng Thị T5; Yêu cầu hủy một phần Quyết định số 2175/QĐ-UBND ngày 17 tháng 9 năm 2021 của UBND thành phố B, tỉnh Bắc Kạn về việc: Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích thực hiện Dự án: Xây dựng tuyến đường thành phố B - Hồ B (Đoạn đường thành phố B) đối với việc thu hồi 3.022,6m² đất thuộc thửa số 1691, tờ bản đồ số 01, diện tích 9016m² tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đối với bà Phạm Thị H.

Nguyên đơn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án về việc Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 397485 ngày 24/5/2018 của UBND thành phố B cấp cho bà Phùng Thị T5; Yêu cầu hủy một phần Quyết định số 2175/QĐ-UBND ngày 17 tháng 9 năm 2021 của UBND thành phố B, tỉnh Bắc Kạn về việc: Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích thực hiện Dự án: Xây dựng tuyến đường thành phố B - Hồ B (Đoạn đường thành phố B) đối với việc thu hồi 3.022,6m² đất thuộc thửa số 1691, tờ bản đồ số 01, diện tích 9016m² tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đối với bà Phạm Thị H theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn quyết định lãi suất chậm thi hành án; nghĩa vụ chịu án phí; tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/10/2023 nguyên đơn là Phạm Thị L và ngày 06/10/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Tô Xuân S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án. Tại phiên tòa phúc thẩm, những người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Các đương sự trình bày:

  • Phía nguyên đơn trình bày: Cơ bản giữ nguyên ý kiến như đã trình bày tại cấp sơ thẩm; không công nhận việc cụ T5 tặng cho và bán đất cho bà H. Bà khẳng định tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ngoài các yêu cầu trên thì bà còn yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Q1, cụ T5 để lại là quyền sử dụng đối với thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01, tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn nhưng không được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết. Tại thời điểm được ghi trên hợp đồng ủy quyền giữa bà H với anh V1 năm 2019 thì anh V1 đang sinh sống tại Đài Loan, nên hợp đồng ủy quyền này không hợp pháp, từ đó hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ T5 với anh V1 (do bà H được ủy quyền) không có giá trị pháp lý. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà L trình bày:

Năm 1980 cụ Q1 và cụ T5 khai phá được khoảng 10.000m² đất tại thôn N, xã D, thành phố B; năm 1987 bà L kết hôn với ông Tô Xuân S được cụ T5 cho một phần đất trong diện tích đất khai phá để làm nhà ở riêng; vợ chồng bà L đã san nền, làm nhà, canh tác trên thửa đất được cho; mặc dù là tài sản của cụ Q1, cụ T5 nhưng cụ T5 được quyền định đoạt diện tích khoảng 5.500m², nên cụ T5 có quyền cho bà L; do việc tặng cho vào năm 1987 nên việc tặng cho không lập văn bản giấy tờ gì, nhưng việc tặng cho đã được thực hiện nên có hiệu lực; thực tế gia đình bà L đã làm nhà sinh sống trên đất nên cần áp dụng án lệ số 03/2016/AL để công nhận việc tặng cho này.

Đối với diện tích đất vợ chồng bà L khai phá: Do đất cụ T5 cho ít nên vợ chồng bà L đã tự khai phá thêm để canh tác khoảng 1.000m², việc khai phá có nhiều người biết và chứng kiến, nên có căn cứ để công nhận diện tích đất này cho vợ chồng bà L.

Đối với diện tích đất của cụ Q1 còn lại khoảng 5.000m², theo pháp luật thì được chia đều cho 09 người con của các cụ, nhưng do cụ Q1 chết từ năm 1982 đến nay đã hết thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế, nên phần diện tích đất này giao cho bà L được quyền sử dụng.

Tại thời điểm ngày 01/4/2019, cụ T5 tặng cho anh V1 diện tích đất nêu trên là không hợp pháp, vì thời điểm này anh V1 đang định cư ở nước ngoài. Mặc dù bà L đã yêu cầu giám định chữ ký của anh V1 trong hợp đồng ủy quyền nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã không thực hiện, nên chưa đủ căn cứ giải quyết vụ án.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

  • Bị đơn là bà Phạm Thị H trình bày: Cơ bản giữ nguyên ý kiến như đã trình bày tại cấp sơ thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật, nên bà đã không kháng cáo; bà L cho rằng bà được cụ T5 cho đất là không đúng vì bà L chỉ ở đó một thời gian sau đó chuyển đi nơi khác ở và không liên quan gì đến thửa đất; quá trình sử dụng đất anh V1 và bà H đã nhận chuyển nhượng thửa đất của cụ T5, việc chuyển nhượng là hợp pháp, tại thời điểm ký kết các hợp đồng thì anh V1 có mặt tại Việt Nam để thực hiện ký kết các hợp đồng, còn việc anh V1 bằng cách nào có mặt tại Việt Nam thì bà không biết được. Đề nghị Tòa án bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Tô Xuân S trình bày: Nhất trí như ý kiến của bà L và quan điểm của Luật sư.
  • Đại diện Sở T trình bày: Cơ bản giữ nguyên ý kiến như đã trình bày tại cấp sơ thẩm, việc cấp GCNQSD đất cho ông V1, bà H đều căn cứ vào các hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp, nên các GCNQSD đất được cấp theo đúng quy định của pháp luật; bà L khởi kiện yêu cầu hủy các GCNQSD đất là không có căn cứ, đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.
  • Đại diện Bản quản lý dự án trình bày: Ban quản lý dự án chỉ liên quan đến việc thu hồi, bồi thường đối với diện tích đất đã thu hồi; căn cứ hồ sơ quản lý đất đai, hồ sơ thu hồi đất thì bà H là chủ sử dụng đất, nên đã thu hồi, bồi thường cho bà H theo đúng quy định của pháp luật, bà H đã nhận hết tiền.

Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa; Thư ký và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của các đương sự trong hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa một số đương sự vắng mặt nhưng đã có lời khai nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về nội dung: Việc bà L khởi kiện đòi lại đất mà bà cho rằng do cụ T5 tặng cho và do vợ chồng bà khai phá là không có căn cứ; khi khởi kiện bà L có yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Q1, cụ T5 và đã được Tòa án thụ lý, nhưng không được xem xét giải quyết; từ năm 2017 đến năm 2022 không có căn cứ chứng minh anh V1 có mặt tại Việt Nam, căn cứ công văn của Cục X, thì không có căn cứ anh V1 đã nhập cảnh về Việt Nam trong thời điểm này, nên hợp đồng ủy quyền có dấu hiệu giả tạo, có dấu hiệu giả mạo trong công tác. Các hợp đồng ủy quyền, hợp đồng tặng cho và chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết trong thời điểm này, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm công nhận là không có căn cứ. Do hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho không có căn cứ, nên yêu cầu chia di sản thừa kế là có căn cứ.

Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

* Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện: Tòa án cấp sơ thẩm xác định yêu cầu khởi kiện là chia di sản thừa kế, tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu và yêu cầu hủy GCNQSD đất; đây là vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Cụ Phùng Thị T5 chết năm 2020; ngày 09/12/2021 nguyên đơn có đơn khởi kiện. Căn cứ Điều 688, Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu mở thừa kế đối với bất động sản là 30 năm, nên đang còn thời hiệu khởi kiện. Ngoài yêu cầu chia di sản thừa kế đương sự còn đề nghị xem xét đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các đương sự trong vụ án; đây là quyết định hành chính cá biệt của cơ quan hành chính Nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai nên thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Hơn nữa, tại thời điểm thụ lý giải quyết vụ án, anh Phạm Văn V1 là đương sự trong vụ án đang ở nước ngoài. Do đó, mặc dù Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn đã thụ lý nhưng sau đó đã chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định tại Điều 32 Luật Tố tụng hành chính và khoản 5, khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm một số đương sự vắng mặt nhưng đã có người đại diện theo ủy quyền có mặt, hoặc có đơn xin xét xử vắng mặt, hoặc đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ là đúng quy định tại Điều 227; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa được mở ngày 09/5/2024 bị đơn là bà Phạm Thị H có mặt và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, nên Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Quá trình giải quyết vụ án, bà L rút yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 397485 ngày 24/5/2018 của UBND thành phố B cấp cho bà Phùng Thị T5 và yêu cầu hủy một phần Quyết định số 2175/QĐ-UBND ngày 17 tháng 9 năm 2021 của UBND thành phố B, tỉnh Bắc Kạn về việc: Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích thực hiện Dự án: Xây dựng tuyến đường thành phố B - Hồ B (Đoạn đường thành phố B) đối với việc thu hồi 3.022,6m² đất thuộc thửa số 1691, tờ bản đồ số 01, diện tích 9016m² tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đối với bà Phạm Thị H. Việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ đối với các yêu cầu này là đúng quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Căn cứ đơn khởi kiện của bà Phạm Thị L nộp tại Tòa án ngày 07/01/2022 thì ngoài các yêu cầu trên, bà L còn yêu cầu chia di sản của bố, mẹ để lại là diện tích đất khoảng 7.500m2 tại thửa số 1591, tờ bản đồ số 01, thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; sau khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn đã thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật, đến ngày 01/3/2022 đã thụ lý vụ án số 27/2022/TLST. Tuy nhiên, ngày 08/3/2022, bà Phạm Thị L đã có đơn rút toàn bộ nội dung khởi kiện, nhưng hồ sơ vụ án không thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện các hoạt động tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự là đình chỉ việc giải quyết vụ án, mà vẫn tiến hành các hoạt động tố tụng; sau đó chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn để giải quyết theo thẩm quyền là không đúng với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ đơn khởi kiện, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phạm Thị L có yêu cầu xem xét đến chia di sản thừa kế của cụ Q1, cụ T5; tuy sau đó bà L có một số đơn cho rằng là bổ sung đơn khởi kiện, trong nội dung các đơn này đều thể hiện các nội dung đã được khởi kiện, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn ban hành thông báo bổ sung đơn khởi kiện là chưa chuẩn xác. Theo đó, xác định bà L không yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Q1 và cụ T5 là thiếu căn cứ. Vì yêu cầu này đã được khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án bà L không rút đối với yêu cầu này; tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là bà Phạm Thị L khẳng định bà khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ là cụ Q1 và cụ T5; Tòa án cấp sơ thẩm cũng không đình chỉ đối với yêu cầu này, nhưng nhận định bà L không yêu cầu để không xem xét đến nội dung này là giải quyết không triệt để vụ án, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự.

* Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Phạm Thị L và ông Tô Xuân S:

[5] Xét nguồn gốc thửa đất đang có tranh chấp, thấy:

Các đương sự đều thừa nhận thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 1 thuộc thôn N, xã D thành phố B được vợ chồng cụ Phạm Văn Q1 và cụ Phùng Thị T5 và các con khai phá từ những năm 1981 - 1982; sau khi cụ Q1 chết, cụ T5 cùng các con tiếp tục canh tác trên diện tích đất này. Theo bà L, năm 1987 bà kết hôn với ông Tô Xuân S nên được cụ T5 tặng cho diện tích 268,9m² thuộc thửa đất số 1591 (nay là thửa số 1691) tờ bản đồ số 1, vợ chồng bà L đã làm nhà và sinh sống đến năm 1994 thì chuyển đi chỗ khác ở; trong quá trình sinh sống vợ chồng bà L tiếp tục khai phá mở rộng thêm diện tích đất. Tuy nhiên, việc tặng cho quyền sử dụng đất không có văn bản, giấy tờ gì, việc vợ chồng bà L khai phá cũng không đăng ký, kê khai để xin cấp GCNQSD đất theo đúng quy định; các đương sự khác trong vụ án đều cho rằng, tuy năm 1987 vợ chồng bà L có làm nhà trên một phần diện tích đất của cụ Q1 cụ T5, nhưng do cụ T5 cho mượn đất; sau khi sinh sống trên đất được một thời gian do giữa vợ chồng bà L với cụ T5 phát sinh mâu thuẫn, nên cụ T5 đã đuổi vợ chồng bà L không cho ở trên đất nữa; việc này phù hợp với lời khai bà L thừa nhận từ năm 1994 vợ chồng bà chuyển đi nơi khác sinh sống, không sử dụng đối với thửa đất của cụ Q1, cụ T5. Hơn nữa, mặc dù bà L cho rằng vợ chồng bà được cụ T5 cho một diện tích đất nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh, không có ai chứng kiến việc tặng cho, cũng như khai phá, các đương sự khác không thừa nhận. Quá trình sử dụng bà T2 đã trồng cây trên toàn bộ diện tích đất, bà L biết nhưng không có ý kiến gì; toàn bộ diện tích đất này sau đó vợ chồng bà T2 đã kê khai, đăng ký và đã được cấp GCNQSD đất. Tuy nhiên, do xác định nguồn gốc đất là của cụ Q1, cụ T5 nên sau khi thu hoạch cây cối, vợ chồng bà T2 đã chủ động làm thủ tục tặng cho để trả lại quyền sử dụng đất cho cụ T5 và cụ T5 đã được cấp GCNQSD đất, các cấp chính quyền địa phương đều khẳng định việc cấp GCNQSD đất cho cụ T5 là đúng quy định của pháp luật. Do đó, chỉ đủ căn cứ khẳng định toàn bộ diện tích của thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 1 thuộc quyền sử dụng của cụ Q1 và cụ T5; Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là di sản thừa kế của cụ Q1, cụ T5 để lại là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm nhận định, cụ Q1 chết năm 1982 đến năm 2012 thì thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Q1 đã hết, nên năm 2019 cụ T5 có quyền tặng cho anh V1 đất là thiếu căn cứ. Bởi vì, do cụ Q1 chết trước ngày 19/10/1990 nên căn cứ áp dụng để tính thời hiệu khởi kiện là Pháp Lệnh thừa kế năm 1990, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 thì thời hiệu mở thừa kế của cụ Q1 được tính từ ngày 10/9/1990. Căn cứ Điều 688, Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệu mở thừa kế đối với bất động sản là 30 năm; theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990 (ngày công bố Pháp lệnh về thừa kế). Do đó, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Q1 đến hết ngày 10/9/2020 mới hết thời hiệu khởi kiện; nhưng ngày 01/4/2019 cụ T5 đã lập hợp đồng tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đối với thửa đất số 1591, tờ bản đồ số 01 và tài sản trên đất, trong đó có cả phần di sản thừa kế của cụ Q1 để lại, khi chưa có sự thỏa thuận, thống nhất của tất cả các thừa kế của cụ Q1 là vi phạm pháp luật, vượt quá phạm vi về quyền tài sản của cụ T5. Hơn nữa, các đương sự đều thừa nhận, ngoài tài sản là quyền sử dụng đất thì trên đất còn có tài sản là nhà của cụ Q1 và cụ T5. Theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị quyết số 58 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội thì: “Thời gian từ ngày 1 tháng 7 năm 1996 đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực không tính vào thời hiệu trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đối với giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991”.

Theo mục 1.5 Nghị quyết số 02/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “Đối với giao dịch dân sự về nhà ở thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991 và theo hướng dẫn tại Thông tư Liên tịch số 01/1999/TTLT ngày 25/01/1999 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Nghị quyết về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thì thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện”. Do đó, bản án sơ thẩm cho rằng tại thời điểm cụ T5 tặng cho anh V1 quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thì thời hiệu yêu cầu chia di sản của cụ Q1 đã hết để công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ T5 với anh V1 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh V1 với bà H là chưa đủ căn cứ vững chắc.

Hơn nữa, mặc dù đến thời điểm nguyên đơn có đơn khởi kiện thì đã quá 30 năm, nhưng quá trình giải quyết vụ án không có đương sự nào yêu cầu áp dụng thời hiệu, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn áp dụng thời hiệu là trái với quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự. Vả lại, nếu hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế mà có đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện, thì cũng cần xem xét đến có hay không các đương sự yêu cầu chia tài sản chung theo đúng quy định của pháp luật.

[6] Căn cứ hợp đồng ủy quyền lập ngày 29/3/2019, được công chứng ngày 01/4/2019 giữa anh Phạm Văn V1 ủy quyền cho bà Phạm Thị H thực hiện giao kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Phùng Thị T5 với anh Phạm Văn V1; tuy hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng đúng quy định của pháp luật; mặc dù Công chứng viên khẳng định tại thời điểm công chứng anh V1 và bà H có mặt tại Văn phòng công chứng và ký vào hợp đồng trước mặt Công chứng viên. Tuy nhiên, căn cứ Công văn số 19447/QLXNK-P5, ngày 31/7/2023, của Cục X, Bộ C8 thể hiện anh Phạm Văn V1 xuất cảnh ngày 25/10/2017, đến ngày 17/11/2022 mới nhập cảnh trở lại Việt Nam; nên không có căn cứ khẳng định, trong thời gian từ ngày 25/10/2017 đến ngày 17/11/2022, anh Phạm Văn V1 có mặt tại Việt Nam, nên không thể ký vào hợp đồng ủy quyền được. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ lời khai của anh V1 cho rằng anh V1 nhập cảnh vào Việt Nam không qua con đường chính ngạch, nhưng không có căn cứ để chứng minh; quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá, làm rõ nội dung này nhưng đã công nhận hợp đồng ủy quyền này hợp pháp là chưa đủ căn cứ. Từ đó công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ T5 với anh V1 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh V1 với bà H có hiệu lực là chưa đủ căn cứ vững chắc.

Từ phân tích trên thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ để xác định đúng thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Q1, dẫn đến việc xác định không đúng di sản thừa kế của hai cụ, chưa đánh giá đúng bản chất của hợp đồng ủy quyền giữa anh V1 với bà H, nhưng đã công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ T5 với anh V1, cũng như công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông anh và bà H có hiệu lực toàn bộ là chưa chuẩn xác.

[7] Do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác định đúng di sản thừa kế của cụ Q1, cụ T5, cần phải xác định lại, nên các yêu cầu khác của nguyên đơn trong vụ án này cũng chưa đủ căn cứ để xác định, nên cần phải xem xét lại.

Tổng hợp các phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện không đúng quy định của pháp luật, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chưa xác định đúng di sản thừa kế của cụ Q1, cụ T5; chưa xem xét hết nội dung khởi kiện của nguyên đơn nhưng đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là thiếu căn cứ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của phía nguyên đơn; vi phạm này của Tòa án cấp sơ thẩm cấp phúc thẩm không khắc phục được và nếu khắc phục để xem xét, giải quyết luôn sẽ ảnh hưởng đến quyền kháng cáo của các đương sự. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà L và ông S để hủy bản án sơ thẩm; tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị chấp nhận kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm là có căn cứ.

[8] Về án phí: Do được chấp nhận kháng cáo, nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm; án phí dân sự sơ thẩm, tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, tiền tạm ứng chi phí tố tụng sẽ được quyết định khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là bà Phạm Thị L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Tô Xuân S; hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân Tỉnh Bắc Kạn. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bà Phạm Thị L và ông Tô Xuân S không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm; tiền án phí, tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được quyết định khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Bắc Kạn;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Bắc Kạn;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Duy Nhiệm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 219/2024/DS-PT ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu hủy gcnqsd đất, yêu cầu hủy các hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 219/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu hủy GCNQSD đất, yêu cầu hủy các hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger