Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 2189/2024/DS-ST

Ngày: 25/9/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Yến

Các hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Bùi Thị Hòa Bình

2/ Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Mỹ Linh – Cán bộ Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1612/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 617/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 557/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C; địa chỉ: Số A Đường T, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội.

Đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Kim D, địa chỉ: Số B Đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 08/4/2021).

2. Bị đơn:

2.1 Ông Trần Phạm Ngũ A; địa chỉ: Số A Đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.2 Bà Huỳnh Kim Y; địa chỉ: Số D đường số D, khu phố F, đường K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 6 năm 2021, bản tự khai, các biên bản của Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần C trình bày:

Nguyên đơn và bị đơn là ông Trần Phạm Ngũ A, bà Huỳnh Kim Y đã ký Hợp đồng tín dụng số 183/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 24/07/2018 và Hợp đồng tín dụng số 248/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 11/10/2018. Theo hợp đồng, nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 5.600.000.000 đồng để mua bất động sản; thời hạn vay là 240 tháng tính từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản nợ đầu tiên; lãi suất vay là 10,5%/năm, có điều chỉnh 01 tháng một lần vào ngày 01 hàng tháng và bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 3.5%/năm. Các bị đơn đã nhận đủ số tiền vay theo Giấy nhận nợ số 1 ngày 25/7/2018 và Giấy nhận nợ số 1 ngày 11/10/2018.

Ngoài hai hợp đồng tín dụng nêu trên, bị đơn là ông Trần Phạm Ngũ A đã được nguyên đơn cấp thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế ngày 01/12/2018 và bị đơn là bà Huỳnh Kim Y đã được nguyên đơn cấp thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế ngày 11/10/2018.

Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, các bị đơn đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 611, tờ bản đồ số 30, địa chỉ; 830/14a, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh và thửa đất số 874 tờ bản đồ số 22, địa chỉ: 512/14/1/2/13 N, Ấp A, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp số 183/2018/HĐBĐ/NHCT910-PBL số ngày 24/7/2018 và Hợp đồng thế chấp số 248/2018/HĐBĐ/NHCT910-PBL số ngày 23/7/2018.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bị đơn đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong các hợp đồng tín dụng nên nguyên đơn đã chuyển toàn bộ số nợ gốc sang nợ quá hạn. Nguyên đơn và bị đơn đã thống nhất cho bị đơn được bán tài sản bảo đảm để trả nợ. Ngày 13/5/2021, bị đơn đã nộp tiền trả một phần nợ gốc, lãi nợ cho nguyên đơn là 5.487.232.108 đồng. Số nợ còn lại không có tài sản bảo đảm.

Tính đến ngày 23/9/2024, bị đơn còn nợ nguyên đơn như sau:

  • - Tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 183/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 24/07/2018: Nợ gốc là 687.232.108 đồng, tiền lãi là 641.733.617 đồng, lãi phạt chậm trả là 6.465.218 đồng.
  • - Tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 248/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 11/10/2018: Nợ gốc là 0 đồng, tiền lãi là 456.283.187 đồng, lãi phạt chậm trả là 8.639.564 đồng.
  • - Tiền nợ theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế ngày 01/12/2018: Nợ gốc là 0 đồng, tiền lãi là 89.978.641 đồng.
  • - Tiền nợ theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế ngày 11/10/2018 là: Nợ gốc là 0 đồng, tiền lãi là 11.902.782 đồng.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các bị đơn liên đới trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn số tiền nợ gốc, lãi tính đến ngày 23/9/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 183/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 24/07/2018, Hợp đồng tín dụng số 248/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 11/10/2018 là 1.800.353.694 đồng; yêu cầu bị đơn là ông Trần Phạm Ngũ A trả tiền nợ theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế ngày 01/12/2018 là 89.978.641 đồng; yêu cầu bị đơn là bà Huỳnh Kim Y trả tiền nợ theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế ngày 11/10/2018 là 11.902.782 đồng; yêu cầu các bị đơn tiếp tục phải trả tiền lãi theo lãi suất tại hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.

Các bị đơn là ông Trần Phạm Ngũ A và bà Huỳnh Kim Y đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Trần Phạm Ngũ A và bà Huỳnh Kim Y không đến Tòa án giải quyết vụ án và không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu quan điểm: Ngoại trừ việc vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70, Điều 72, của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Bị đơn không thanh toán nợ đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc, lãi cho nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

    Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền nợ theo hợp đồng tín dụng, bị đơn là ông Trần Phạm Ngũ A cư trú tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Về sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa.

    Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự đến tham gia phiên tòa xét xử vụ án vào ngày 05/9/2024 và ngày 25/9/2024 nhưng bị đơn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

  3. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu tiền nợ gốc, lãi tính đến ngày 23/9/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 183/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 24/07/2018, Hợp đồng tín dụng số 248/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 11/10/2018 là 1.800.353.694 đồng; yêu cầu bị đơn là ông Trần Phạm Ngũ A trả tiền nợ theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế ngày 01/12/2018 là 89.978.641 đồng; yêu cầu bị đơn là bà Huỳnh Kim Y trả tiền nợ theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế ngày 11/10/2018 là 11.902.782 đồng; yêu cầu các các bị đơn phải tiếp tục trả lãi từ ngày 24/9/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất đã thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng.
    1. Các bên tham gia ký Hợp đồng tín dụng số 183/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 24/07/2018, Hợp đồng tín dụng số 248/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 11/10/2018, Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế ngày 01/12/2018, Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế ngày 11/10/2018 có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, việc ký kết hợp đồng tín dụng, các giấy đề nghị là hoàn toàn tự nguyện. Căn cứ Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Các thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng có nội dung và mục đích không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Căn cứ Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng có hiệu lực pháp luật. Các bên tham gia hợp đồng có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận tại hợp đồng.
    2. Căn cứ Giấy nhận nợ số 1 ngày 25/7/2018 và Giấy nhận nợ số 1 ngày 11/10/2018, các sao kê tài khoản thẻ tín dụng, Đơn xin tự bán tài sản bảo đảm để trả nợ ngày 11/3/2021, Biên bản thỏa thuận về việc tự bán tài sản để trả nợ ngày 24/3/2021, các phiếu hạch toán ngày 13/5/2021, có cơ sở xác định bị đơn đã nhận đủ số tiền vay là 5.600.000.000 đồng, đã sử dụng thẻ tín dụng và sau khi tự bán tài sản bảo đảm để trả nợ thì số nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 183/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 24/07/2018 còn lại là 687.232.108 đồng, các hợp đồng tín dụng khác dự nợ gốc là 0 đồng. Kể từ ngày 15/3/2021 đến nay, các bị đơn không trả nợ cho nguyên đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 3 của Hợp đồng tín dụng số 183/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 24/07/2018, Hợp đồng tín dụng số 248/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 11/10/2018, Biên bản thỏa thuận về việc tự bán tài sản để trả nợ ngày 24/3/2021; yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
    3. Các bị đơn ký Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế với tư cách cá nhân, sử dụng thẻ tín dụng không vì mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng thẻ tín dụng không phải là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Vì vậy, các bị đơn phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các khoản nợ này.
  4. Đối với phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng, phân tích đúng nội dung của vụ án. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Các bị đơn phải chịu án phí đối với nghĩa vụ liên đới trả tiền cho nguyên đơn theo là Hợp đồng tín dụng số 183/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 24/07/2018, Hợp đồng tín dụng số 248/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 11/10/2018 là 66.010.611 đồng. Bị đơn là ông Trần Phạm Ngũ A phải chịu án phí đối với nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế là 4.498.932 đồng. Bị đơn là bà Huỳnh Kim Y phải chịu án phí đối với nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế là 595.139 đồng Nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 91, Điều 147, Điều 200, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 117, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Điều 37 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 hướng dẫn về án phí, lệ phí Toà án;

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần C:
    1. Buộc ông Trần Phạm Ngũ A và Huỳnh Kim Y phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C tiền nợ tính đến ngày 23/9/2024 là 1.800.353.694 đồng (một tỉ tám trăm triệu ba trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm chín mươi bốn đồng), bao gồm:
      1. Tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 183/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 24/07/2018: Nợ gốc là 687.232.108 đồng, tiền lãi là 641.733.617 đồng, lãi phạt chậm trả là 6.465.218 đồng, tổng số tiền là 1.335.430.943 đồng (một tỷ ba trăm ba mươi lăm triệu bốn trăm ba mươi nghìn chín trăm bốn mươi ba đồng).
      2. Tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 248/2018-HĐCV/NHCT910-PBL ngày 11/10/2018: Nợ gốc là 0 đồng, tiền lãi là 456.283.187 đồng, lãi phạt chậm trả là 8.639.564 đồng, tổng số tiền là 464.922.751 đồng (bốn trăm sáu mươi bốn triệu chín trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm năm mươi mốt đồng).
    2. Buộc ông Trần Phạm Ngũ A phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C tiền nợ tính đến ngày 23/9/2024 theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế ngày 01/12/2018: Nợ gốc là 0 đồng, tiền lãi là 89.978.641 đồng (tám mươi chín triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn sáu trăm bốn mươi mốt đồng).
    3. Buộc bà Huỳnh Kim Y phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C tiền nợ tính đến ngày 23/9/2024 theo Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế ngày 11/10/2018 là: Nợ gốc là 0 đồng, tiền lãi là 11.902.782 đồng (mười một triệu chín trăm lẻ hai nghìn bảy trăm tám mươi hai đồng).
    4. Ông Trần Phạm Ngũ A và bà Huỳnh Kim Y còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng kể từ ngày 24/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm.
    1. Ông Trần Phạm Ngũ A và bà Huỳnh Kim Y phải chịu án phí sơ thẩm là 66.010.611 đồng (sáu mươi sáu triệu không trăm mười nghìn sáu trăm mười một đồng).
    2. Ông Trần Phạm Ngũ A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.498.932 đồng (bốn triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn chín trăm ba mươi hai đồng)
    3. Bà Huỳnh Kim Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 595.139 đồng (năm trăm chín mươi lăm nghìn một trăm ba mươi chín đồng).
    4. Hoàn trả choNgân hàng Thương mại Cổ phần C đã nộp là 30.052.000 đồng (Ba mươi triệu không trăm năm mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2019/0090001 ngày 09/7/2021 của Chi cục Thi hành án quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • VKSND Q.Bình Thạnh;
  • - Đương sự
  • Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2189/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 2189/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger