TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 218/2024/HNGĐ-ST Ngày 28-5-2024 “V/v Tranh chấp xin ly hôn” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Len
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
Bà Nguyễn Kim Lên
Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Nga Muội - Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 108/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/02/2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/3/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Kim C, Sinh năm 1979 (xin vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Ông Võ Văn B, Sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Lê Kim C trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh B chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T ngày 27/11/2009.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong thời gian chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không phù hợp, anh B đánh đập chị nhiều lần, mối quan hệ hôn nhân không đạt được chị yêu cầu ly hôn với anh B.
Con chung: Vợ chồng có hai người con chung cháu Võ Phong N, sinh ngày 21/5/2011, cháu Võ Ngọc T, sinh ngày 25/3/2018. Sau khi ly hôn yêu cầu được nuôi con chung cháu T, cháu N ở với ai thì người đó nuôi, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có.
Chị đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tại các phiên tòa sơ thẩm.
Bị đơn anh Võ Văn B trình bày:
Về hôn nhân: Về hôn nhân và con như chị C trình bày là đúng.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong thời gian chung sống vợ chồng có bất đồng quan điểm trong cuộc sống, có mâu thuẩn, anh vẫn còn thương vợ, anh có đánh vợ chỉ một lần trong lúc nóng, không đồng ý ly hôn.
Trường hợp Tòa án chấp nhận cho ly hôn, thì tài sản chung, nợ vợ chồng tự thỏa thuận.
Con chung: Theo nguyện vọng con ở với ai thì người đó nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Xét về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Lê Kim C khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Võ Văn B, bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, do đó xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự “Tranh chấp xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vắng mặt đương sự: Chị Lê Kim C xin xét xử vắng mặt, anh Võ Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét về yêu cầu ly hôn: Chị Lê Kim C và anh Võ Văn B chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K ngày 27/11/2009, do đó hôn nhân của anh chị hợp pháp được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị C xác định trong thời gian chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẩn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh B đánh đập chị nhiều lần, chị C yêu cầu ly hôn anh B. Anh Võ Văn B xác định vợ chồng có mâu thuẩn, anh chỉ đánh chị C một lần, anh vẫn còn thương vợ không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng vợ chồng phải yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nhưng anh chị không làm được đều đó, hơn nữa chị C và anh B không có thiện chí để hòa giải hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, thấy rằng mối quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lê Kim C ly hôn với anh Võ Văn B là phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Con chung: Chị C và anh B có hai người con chung cháu Võ Phong N, sinh ngày 21/5/2011, cháu Võ Ngọc T, sinh ngày 25/3/2018. Sau khi ly hôn chị C yêu cầu được nuôi con chung cháu Võ Ngọc T. Đối với cháu Võ Phong N đã hơn 07 tuổi, Tòa án ghi ý kiến của cháu Võ Phong N nguyện vọng của cháu là muốn sống với cha (Võ Văn B) sau khi cha mẹ cháu ly hôn, để không làm sáo trộn cuộc sống của các cháu cũng như theo nguyện vọng của cháu N, tiếp tục giao cháu Võ Phong N cho cho anh Võ Văn B nuôi dưỡng, chăm sóc; giao cháu Võ Ngọc T cho chị Lê Kim C nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi các cháu đủ 18 tuổi; chị C, anh B có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở anh, chị thực hiện quyền này.
Chị C, anh B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.2] Xét về tài sản chung: Chị C xác định không có, anh B xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này giữa chị C và anh B có phát sinh tranh chấp về tài sản và nợ thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
[3] Xét về án phí: Chị Lê Kim C là người yêu cầu nên phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 9, 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận khởi kiện của chị Lê Kim C về việc yêu cầu ly hôn với anh Võ Văn B.
Con chung: Tiếp tục giao cháu Võ Ngọc T, sinh ngày 25/3/2018 cho chị Lê Kim C nuôi dưỡng, chăm sóc; giao cháu Võ Phong N, sinh ngày 21/5/2011 cho anh Võ Văn B nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi các cháu đủ 18 tuổi; Anh B, chị C có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở anh chị thực hiện quyền này.
2. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Kim C phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, chị C đã dự nộp tạm ứng án phí, lệ phí 300.000 đồng theo biên lai số 0004582 ngày 27/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trân Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Len |
Bản án số 218/2024/HNGĐ-ST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 218/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Kim C khởi kiện ly hôn với Võ Văn B
